Lời Chúa + Bài giảng Chúa Nhật 4 Phục Sinh – B (Lễ Chúa Chiên Lành)

0
779

Bài Ðọc I: Cv 4, 8-12

“Ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Phêrô được đầy Thánh Thần, đã nói: “Thưa chư vị Thủ lãnh toàn dân và Kỳ lão, xin hãy nghe, nhân vì hôm nay chúng tôi bị đem ra xét hỏi về việc thiện đã làm cho một người tàn tật, về cách thức mà con người đó đã được chữa khỏi, xin chư vị và toàn dân Israel biết cho rằng: Chính nhờ danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, Chúa chúng ta, Người mà chư vị đã đóng đinh, và Thiên Chúa đã cho từ cõi chết sống lại, chính nhờ danh Người mà anh này được lành mạnh như chư vị thấy đây. Chính người là viên đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên Ðá Góc tường; và ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác. Bởi chưng, không một Danh nào khác ở dưới gầm trời đã được ban tặng cho loài người, để phải nhờ Danh đó mà chúng ta được cứu độ”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 117, 1 và 8-9. 21-23. 26 và 28cd và 29

Ðáp: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường (c. 22).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Tìm đến nương tựa Chúa, thì tốt hơn nương tựa ở loài người. Tìm đến nương tựa Chúa, thì tốt hơn nương tựa những bậc quân vương. – Ðáp.

2) Con cảm tạ Chúa vì Chúa đã nghe con, và đã trở nên Ðấng cứu độ con. Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. – Ðáp.

3) Phúc đức cho Ðấng nhân danh Chúa mà đến, từ nhà Chúa, chúng tôi cầu phúc cho chư vị. Chúa là Thiên Chúa của con và con cảm tạ Chúa, lạy Chúa con, con hoan hô chúc tụng Ngài. Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Ngài muôn thuở. – Ðáp.

Bài Ðọc II: 1 Ga 3, 1-2

“Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, các con hãy coi: tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta thế nào, khiến chúng ta được gọi là con cái Thiên Chúa, và sự thật là thế. Vì đó mà thế gian không nhận biết chúng ta, vì thế gian không biết Người. Các con thân mến, hiện nay, chúng ta là con cái Thiên Chúa, còn chúng ta sẽ ra sao thì vẫn chưa được tỏ ra. Chúng ta biết rằng: khi được tỏ ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Ga 10, 14

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta”. – Alleluia.

Phúc Âm: Ga 10, 11-18

“Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán: “Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên. Kẻ làm thuê không phải là chủ chiên, và các chiên không phải là của người ấy, nên khi thấy sói đến, nó bỏ chiên mà trốn. Sói sẽ bắt chiên và làm chúng tản mát. Kẻ chăn thuê chạy trốn, vì là đứa chăn thuê, và chẳng tha thiết gì đến đàn chiên. Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta. Cũng như Cha biết Ta và Ta biết Cha, và Ta thí mạng sống vì đàn chiên. Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này; cả những chiên đó Ta cũng phải mang về đàn; chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên. Vì lẽ này mà Cha yêu mến Ta, là Ta thí mạng sống để rồi lấy lại. Không ai cất mạng sống khỏi Ta, nhưng tự Ta, Ta thí mạng sống. Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại. Ðó là mệnh lệnh Ta đã nhận nơi Cha Ta”.

Ðó là lời Chúa.

Bài giảng chủ đề:

CHÚA CHIÊN LÀNH

Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

Chúa Nhật thứ IV Phục Sinh thường được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, một Chúa Nhật hết sức đặc biệt để chiêm ngưỡng chân dung người mục tử nhân lành.

Trong thời Cựu Ước, việc ví von mối tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Ítraen như là mối tương quan giữa người mục tử và con chiên, là một minh họa hết sức quen thuộc. Như mục tử chăn dắt đoàn chiên, Thiên Chúa cũng dưỡng nuôi, chăn dắt dân Ngài: “CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành” (Tv 23, 1b-2).

Trong Tân Ước, Tin Mừng thứ tư đã họa lại cho chúng ta chân dung hoàn hảo của một vị mục tử mà thời Cựu Ước chưa diễn tả hết được. Nếu như vị mục tử Cựu Ước chỉ chăm sóc bảo bọc nuôi dưỡng dân, giải thoát dân khỏi mọi nơi nguy khốn, thì mục tử  Tân Ước bộc lộ một sự gần gũi, sẵn sàng đồng cam cộng khổ với dân, thậm chí chết cho đàn chiên được sống. Dĩ nhiên, phải nói ngay là Thiên Chúa không hề thay đổi tình yêu đối với dân, nhưng theo lối nhìn mạc khải tiệm tiến, thì Đức Giêsu là mạc khải hoàn hảo. Ngài trao ban một mạc khải hoàn hảo về hình ảnh mục tử Thiên Chúa. Đó là một tử nhân lành (kalos). Vậy đâu là những đặc tính tối ưu của người mục tử nhân lành?

  1. Hy sinh mạng sống vì đoàn chiên

Đây là một đặc tính tối ưu, vượt bậc của một người mục tử nhân lành. Đặc tính này quan trọng đến độ chỉ trong vòng 8 câu (Ga 10,11-18), tác giả Tin Mừng thứ tư đã dùng động từ “hy sinh” (tithêô) đến 5 lần. Túc từ đi kèm với động từ “hy sinh” không gì khác hơn là “mạng sống” (sukhê). Người mục tử nhân lành không chỉ là người mục tử dưỡng nuôi chiên nhưng sẵn sàng chết vì chiên. Mục tử Giêsu sẵn sàng trao ban tất cả, trao ban trọn vẹn cho đàn chiên. Một khi ngài đã sẵn sàng trao ban chính thân mình, thì không còn điều gì Ngài không thể trao ban nữa.

Đối với Đức Giêsu, mỗi con chiên đều là máu thịt của Ngài. Ngài yêu thương họ đến cùng. Vì yêu thương họ, Ngài đã không màng đến mạng sống mình. Trong vườn Ghếtsêmani đứng trước tình cảnh nguy hiểm, Đức Giêsu đã nói cùng những người bắt mình rằng: “Đức Giêsu nói: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18,8). Mục tử Giêsu sẵn sàng chống đỡ những khó khăn nguy hiểm để cho đàn chiên của Ngài được an toàn trốn thoát.

Đó là hình ảnh người mục tử đích thực mà Đức Giêsu muốn gieo vào lòng các môn đệ, để rồi trong tương lai, Phêrô và đồng bạn cũng sẽ dùng cách thức ấy mà đối đãi với đàn chiên của mình. Đoạn trích sách Công vụ Tông Đồ hôm nay (Cv 4,8-12) là một trong những bài thực hành sứ vụ mục tử mà Phêrô và Gioan đã học được từ thầy của mình. Hai Tông Đồ đã chấp nhận bị Hội Đồng Do Thái tra hỏi vì một việc lành mà họ đã làm cho một người tàn tật. Đó là khởi đầu cho những hy sinh trong sứ vụ mục tử mà Thánh Phêrô và các tông đồ phải đón nhận trong suốt cuộc đời mình.

  1. Biết chiên của mình

Đặc tính ưu việt thứ hai của vị mục tử nhân lành là “biết chiên của mình”. Trong Tông Huấn niềm vui Tin Mừng Đức thánh cha Phanxicô đã nói rằng: “các nhà loan báo Tin Mừng mang lấy “mùi của chiên” và chiên nghe tiếng họ” (EV, số 24). Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến một Giáo Hội phải biết sẵn sàng “ra đi khỏi khu vực tiện nghi của mình để đến mọi vùng ngoại vi đang cần ánh sáng Tin Mừng” (EV, số 20). Và hơn ai hết chính ngài cũng đã chủ động đến với đàn chiên. Ngài tỏ ra gần gũi với bất cứ thành phần nào trong xã hội. Ngài có thể dễ dàng ôm hôn những người tàn tật, đến nhà tù để cử hành Thánh Lễ tiệc ly, hôn chân các tù nhân với nhiều tôn giáo khác nhau, sẵn sàng gọi điện thoại cho gia đình người ký giả Công Giáo, James Foley, bị quân khủng bố Hồi Giáo IS chặt đầu. Có thể nói Đức Phanxicô đã làm mọi cách để có thể gần gũi chiên nhất.

  1. Tìm chiên lạc

Trong những bài giảng tĩnh tâm cho Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và giáo triều Rôma, năm 2000, Đức Hồng Y F.X Nguyễn Văn Thuận đã táo bạo nói đến năm khuyết điểm của Đức Giêsu. Trong đó, khuyết điểm thứ hai là: “Đức Giêsu không am hiểu về toán học”. Vị Hồng Y khả kính minh họa bằng dụ ngôn người mục tử nhân lành đã bỏ 99 con chiên ngoài hoang địa để đi tìm cho kỳ được 1 con chiên lạc. Tìm được rồi ông lại vác lên vai và mời hàng xóm đến ăn mừng với mình. Đối với Đức Giêsu 1 có giá trị bằng 99. Dĩ nhiên rồi, tình yêu không thể nào được xem như một phép tính. Tình yêu vượt trên tất cả mọi tính toán. Mục tử Giêsu đã không ngừng rong ruổi đây đó để tìm cho kỳ được, Mátthêu, Giakêu, người phụ nữ ngoại tình, người phụ nữ Samari. Sứ mạng của Ngài là sứ mạng tìm kiếm và chương 15 của Tin Mừng Luca chính là những lối diễn tả sống động, sâu sắc nhất của tình yêu mục tử “tìm cho kỳ được” ấy.

Người mục tử nhân lành không chỉ quan tâm đến những con chiên trong đàn nhưng trên hết còn làm mọi cách để “tìm cho kỳ được” những con chiên lạc để vác lên vai đem về.

  1. Những đặc điểm của chiên Chúa

Trong khi bộc bạch về sứ mạng của người mục tử, Đức Giêsu cũng phác họa những nét hết sức tiêu biểu của một con chiên của Chúa.

Thứ nhất, chiên Chúa phải biết Chúa. Động từ biết (gynôskô) được dùng ở thì hiện tại diễn tả một thực tiễn luôn luôn như thế. Động từ này diễn tả một sự hiểu biết sâu xa nhất có thể. Nó có thể diễn tả một mối liên hệ xác thịt gần gũi của vợ chồng như trong Mt 1,25: “Giuse nhận Đức Maria làm vợ và không “biết” (ăn nằm) bà cho đến khi bà sinh con trai”; “Đức Maria thưa với sứ thần rằng: “việc ấy sẽ xảy ra thế nào vì tôi không “biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34). Những con chiên Chúa phải vươn đến một sự hiểu biết sâu sắc, thân quen và gần gũi với Chúa như là Chúa biết họ.

Thứ hai, chiên Chúa phải nghe tiếng Chúa. Động từ nghe được dùng trong ngữ cảnh này được hiểu như là nghe theo tiếng gọi của Chúa để trở về với Ngài. Người mục tử luôn luôn đi tìm kiếm con chiên, nhưng chỉ khi nào con chiến biết thinh lặng trước những ồn ào của cuộc sống thì mới nhận ra tiếng của mục tử và quay về với Ngài. Có nhiều tiếng gọi trong cuộc sống làm cho con chiên lạc đàn, chính vì thế việc lắng nghe tiếng Chúa là một đặc tính hết sức cần thiết để giữ cho con chiên khỏi đi lạc, và nếu lỡ đi lạc thì biết hướng để quay về.

Thứ ba, chiên Chúa phải hiệp nhất: Một đàn duy nhất. Ân huệ “được gọi là con Thiên Chúa” và “thực sự là Con Thiên Chúa” được thánh Gioan nói đến trong bài đọc II, là một ân huệ quá sức tuyệt vời. Đó đồng thời là một lời nhắc nhở về một nguồn cội mà mọi con chiên phải tìm về; nhắc nhớ đến mối tương quan nguyên thủy mà mọi kitô hữu phải tìm lại cho kỳ được. Đó chính là mối tương quan trong gia đình nhân loại. Thiên Chúa vốn tạo dựng và đặt để nhân loại trong một mối tương quan gia đình. Đức Giêsu nhấn mạnh đến một sự hiệp thông, hiệp nhất giữa một xã hội đang ngày càng phân tán, và chia rẽ. Đó là đặc tính nhất thiết phải có của đàn chiên Chúa. Chúa Giêsu luôn nỗ lực cho một đại gia đình nhân loại hiệp nhất. Vấn đề còn lại là những con chiên đã hiệp tác thế nào với nỗ lực tác hợp, quy tụ của Thiên Chúa.

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật Chúa Chiên lành tô đậm những đặc tính của mục tử nhân lành Giêsu. Đó là hình mẫu cho tất cả những ai sống đời thánh hiến phải mơ về và đạt đến. đồng thời cũng nhắn gửi đến từng con dân Chúa về mẫu hình của một con chiên đích thực. Xã hội con người, gia đình Thiên Chúa chỉ thật sự ấm êm, bình an hạnh phúc khi cả người mục tử và đàn chiên đều sống đúng với phẩm chất của mình.

 

Bài trướcMột nét Văn hóa trong Lễ Phục Sinh của người SLOVAKIA
Bài tiếp theoPhục Sinh – Tuần IV – Năm B

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây