Lời Chúa + Bài giảng Chúa Nhật 3 Phục Sinh – Năm B

0
585

Bài Ðọc I: Cv 3, 13-15. 17-19

“Ðấng ban sự sống thì anh em đã giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi ấy, Phêrô nói với dân chúng rằng: “Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, Thiên Chúa Giacóp, Thiên Chúa các tổ phụ chúng ta đã làm vinh danh Chúa Giêsu, Con của Ngài, Ðấng mà anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt Philatô, trong khi Philatô xét là phải tha cho Người. Anh em đã chối bỏ Ðấng Thánh, Ðấng Công Chính, và xin tha tên sát nhân cho anh em, còn Ðấng ban sự sống thì anh em lại giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, điều đó chúng tôi xin làm chứng.

“Hỡi anh em, thế nhưng tôi biết rằng anh em đã hành động vì không biết, như các thủ lãnh anh em đã làm. Thiên Chúa đã hoàn tất việc Người dùng miệng các tiên tri mà báo trước. Ðức Kitô của Ngài phải chịu khổ hình. Vậy anh em hãy ăn năn hối cải, ngõ hầu tội lỗi anh em được xoá bỏ”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 4, 2. 7. 9

Ðáp: Lạy Chúa, xin chiếu sáng thiên nhan Chúa trên mình chúng con! (c. 7a)

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Khi con cầu, nguyện Chúa nghe, lạy Chúa công bình của con, Chúa đã giải thoát con trong cơn khốn khó, nguyện xót thương và nghe tiếng con cầu! – Ðáp.

2) Nhiều người nói: “Ai chỉ cho ta thấy điều thiện hảo?” Lạy Chúa, xin chiếu sáng thiên nhan Chúa trên mình chúng con! – Ðáp.

3) Ðược an bình, con vừa nằm xuống, thoắt ngủ ngon, vì lạy Chúa, duy có Chúa cho con yên hàn. – Ðáp.

Bài Ðọc II: 1 Ga 2, 1-5a

“Chính Người là của lễ đền tội, không những cho chúng ta mà thôi, nhưng còn cho cả thế gian”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, Cha viết những điều này cho các con, để các con đừng phạm tội. Nhưng nếu có ai đã phạm tội, thì chúng ta có Ðức Giêsu Kitô, Ðấng công chính, làm trạng sư nơi Ðức Chúa Cha. Chính Người là của lễ đền tội chúng ta; không nguyên đền tội chúng ta mà thôi, nhưng còn đền tội cho cả thế gian. Chính nơi điều này mà chúng ta biết rõ được là chúng ta biết Chúa Giêsu, nếu chúng ta giữ các giới răn Người. Ai nói mình biết Người, mà không giữ giới răn Người, là kẻ nói dối, và nơi người ấy không có chân lý. Còn ai giữ lời Người, thì quả thật, tình yêu của Thiên Chúa đã tuyệt hảo nơi người ấy.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: x. Lc 24, 32

Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa Giêsu, xin giải thích cho chúng con những lời Thánh Kinh; xin làm cho tâm hồn chúng con sốt sắng khi nghe Chúa nói với chúng con. – Alleluia.

Phúc Âm: Lc 24, 35-48

“Họ nhận ra được Người khi họ nhận bánh do Người bẻ trao cho”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, hai môn đệ thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.

Mọi người còn đang bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và phán: “Bình an cho các con! Thầy đây, đừng sợ”. Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: “Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây”. Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: “Ở đây các con có gì ăn không?” Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: “Ðúng như lời Thầy đã nói với các con, khi Thầy còn ở với các con, là cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh”. Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh.

Người lại nói: “Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy”.

Ðó là lời Chúa.

Bài giảng:

LÀM CHỨNG NHÂN (Lm. Antôn Nguyễn Phi Tiến, SVD)

“Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Lc 24,48). Đây vừa là lời mời gọi và là lệnh truyền của Chúa Phục Sinh dành cho các Tông Đồ, các môn đệ và cho toàn thể Giáo Hội. Đó cũng là mệnh lệnh làm chứng nhân cho Chúa. Vậy Đấng Phục Sinh muốn các môn đệ và những Kitô hữu chúng ta làm chứng về điều gì? Các bài đọc Lời Chúa trong Chúa Nhật III Phục Sinh hôm nay sẽ cho chúng ta những giải đáp thoả đáng về những điều mà Đấng Phục Sinh muốn chúng ta làm chứng.

1.     Làm chứng về điều mà Đấng Phục Sinh làm chứng

Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, thánh Luca thuật lại việc Đức Giêsu hiện ra lần thứ ba với các Tông Đồ tại nhà Tiệc Ly. Việc Người hiện ra là một lời chứng sống động và rõ ràng nhất về biến cố Người đã Phục Sinh, đã chỗi dậy từ cõi chết. Cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá của Đức Giêsu dường như đã nhấn chìm các môn đệ trong trong bóng đêm của sự ngờ vực, làm suy giảm niềm tin và làm tiêu tan niềm hy vọng. Các ông dường như đang thất vọng, nản lòng, rụt chí và đang tính kế rút lui ở ẩn. Mọi hy vọng giờ tan thành mây khói và được chôn kín vào trong nấm mồ cùng với Thầy Giêsu. Trong khoảnh khắc mất nhuệ khí, mất phương hướng, mất niềm hy vọng, và có khi mất cả niềm tin nữa thì Đấng Phục Sinh hiện ra: Trước hết là với các chị em phụ nữ (x. Lc 24,1-12), thứ đến là với các môn đệ (x. Lc 24,13-25), và cuối cùng với các Tông Đồ, tức nhóm Mười Hai (x. Lc 24,35-48). Cụ thể trong trình thuật Lời Chúa hôm nay, Đấng Phục Sinh đã hiện ra đứng giữa các ông và trao ban bình an: “Bình an cho anh em!” (Lc 24,36). Người còn trấn an các ông “sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực?” (Lc 24,38). Ngài minh chứng cho các ông thấy cụ thể Thầy đã sống lại, hãy “nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ sờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em đã thấy Thầy có đây?” (Lc 24,39).

Lời chứng của Đấng Phục Sinh là chứng thật. Người làm chứng về sự Phục Sinh của mình không chỉ bằng lời ban bình an, lời trấn an tinh thần, mà cả bằng lời mời gọi các môn đệ hãy nhìn vào thân xác, nhìn vào các lỗ đinh trên tay chân Thầy, nhìn vào con người cụ thể đang hiện diện với các ông, và hãy chạm vào Thầy: “Ma đâu có thân xác như Thầy” (Lc 24,…).

Đấng Phục Sinh làm chứng về mình bằng cả lời nói và sự hiện diện cụ thể. Đó là lời chứng thật. Vì là lời chứng thật nên các Tông Đồ và các môn đệ tin vào Người. Nhờ tin mà các ông hoàn toàn được biến đổi. Từ những con người mang trong mình sự bất an trở thành những con người tràn đầy bình an; từ những con người sợ hãi, nhát đảm trở thành những con người can đảm lạ thường; từ những con người mất niềm tin, niềm hy vọng trở thành những người vững tin và tràn đầy hy vọng; từ nhưng con người chán nản, mất định hướng sống trở thành những chứng nhân can trường, có mục đích sống; từ những người chỉ biết đóng kín cửa nay trở thành những con người dám mở tung mọi cánh cửa để ra đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho mọi người.

2.     Các Tông Đồ làm chứng về Đấng Phục Sinh

Nhận được ánh sáng, niềm vui, ơn bình an và Tin Mừng Phục Sinh từ Đấng Phục Sinh, các Tông Đồ đã không ngần ngại lên đường làm chứng cho Đấng Phục Sinh. Tông Đồ Phêrô trong sách Công Vụ Tông Đồ đã mạnh dạn làm chứng cho dân chúng rằng: “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp, Thiên Chúa của các tổ phụ chúng ta đã làm vinh danh Đức Giêsu, Con của Ngài, Đấng mà anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt Philatô,… nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, điều đó chúng tôi xin làm chứng” (Cv 3,13-15). Phêrô đã dõng dạc làm chứng một cách mạnh mẽ về Thầy của mình, Đấng mà các ngôn sứ đã báo trước và anh em đã hành động vì không biết và thủ lãnh của anh em đã giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết. Quả thật, Người đã sống lại thật và đã hiện ra với chúng tôi và chúng tôi xin làm chứng về điều đó.

Hai Tông Đồ trở về từ làng Emmau cũng làm chứng về Đấng Phục Sinh. Sau khi đã nhận ra người đồng hành với mình trên đường trở về Emmau, được Ngài khai tâm mở trí bằng những lời giải thích Kinh Thánh, đặc biệt được Ngài trú ngụ vào nhà và cùng bẻ bánh với các ông, ngay lập tức con mắt thể lý và con mắt đức tin của hai ông bừng sáng lên và các ông nhận ra Chúa Phục Sinh. Từ hai con người trong bộ dạng thất thểu, mệt mỏi, chán chường, có thể nói là thất vọng, với những bước chân nặng nề và tâm trạng thất thần trên hành trình trở về quê thì nay được biến đổi hoàn toàn khi nhận ra và gặp được Chúa Phục Sinh. Tin Mừng ghi rõ, ngay lập tức họ chỗi dậy trở lại với các anh em của mình để loan báo về niềm vui mà họ vừa nhận được. Đó là Thầy đã phục sinh và họ đã gặp được Người và cùng Người bẻ bánh (x. Lc 24,35). Hai ông làm chứng về Đấng Phục Sinh mà các ông đã diễm phúc được Ngài hiện ra đồng hành, ở lại và cùng đồng bàn với các ông. Thánh Gioan Tông Đồ cũng làm chứng về Đấng Phục Sinh khi nói: “Đức Giêsu Kitô, Đấng công chính, chính Người là của lễ hy sinh đền bù tội lỗi ta, và còn đền bù tội lỗi cho cả thế giới” (1 Ga 2,1-2).

3.     Chúng ta làm chứng cho Đấng Phục Sinh

Hẳn là chúng ta không được diễm phúc trông thấy Chúa Phục Sinh hiện ra như các Tông Đồ và những người môn đệ theo Chúa thuở ban đầu, nhưng nhờ ánh sáng mạc khải của Thánh Kinh, Thánh Truyền và lời chứng của các Tông Đồ, chúng ta cũng mạnh mẽ xác tín rằng Đức Giêsu, Đấng mà bị người đời bắt nộp, xỉ vả, đánh đòn, đóng đinh trên thập giá và giết chết nhưng ngày thứ ba, Người đã chỗi dậy từ cõi chết (x. Lc 24,46). Chúng ta xác tín về biến cố khổ nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu và hôm nay chúng ta cũng làm chứng về điều đó.

“Chính anh em là chứng về những điều này.” Đó là lệnh truyền của Chúa. Do đó, làm chứng cho Chúa là sứ mạng của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Vậy chúng ta phải làm chứng như thế nào trong thế giới hôm nay? Trong thông điệp Evangelii Nuntiandi, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã khẳng định: “Người thời nay sẵn sàng tin vào chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu là thầy dạy thì trước đó thầy dạy đã là chứng nhân.” Và trong sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, thánh Công Đồng nhắc nhở chúng ta về vai trò làm chứng: “Hình thức đặc biệt của hoạt động tông đồ cá nhân là giúp giáo dân làm chứng bằng cả đời sống phát xuất từ đức tin, đức cậy, đức mến. Đó là dấu chỉ rất thích hợp trong thời đại chúng ta, để biểu lộ Chúa Kitô sống động trong các tín hữu của Người. Cùng với việc tông đồ bằng lời nói mà trong một số hoàn cảnh lại rất cần thiết người giáo dân rao giảng Chúa Kitô, cắt nghĩa và phổ biến giáo lý của Người tuỳ theo hoàn cảnh và tài năng của mỗi người, đồng thời họ cũng trung thành tuyên xưng giáo lý của Người nữa” (Sắc lệnh tông đồ giáo dân, số 16).

Như thế, thiết tưởng để làm chứng cho Chúa, cho Đấng Phục Sinh một cách hiệu quả, trước hết đời sống người Kitô hữu chúng ta phải phản chiếu được dung mạo của Đấng Phục Sinh ngang qua đời sống của mình, một đời sống có niềm tin và niềm hy vọng vào sự sống lại mai ngày với Chúa Phục Sinh sau cõi đời tạm này. Thứ đến, một gia đình Công Giáo đầy gương sáng và mẫu mực trong môi trường mình đang sinh sống; một lối sống thể hiện được dung mạo đầy yêu thương, nhân từ, bao dung và giàu lòng tha thứ; một lối sống giàu lòng quảng đại, sẵn sàng chia sẻ và trao ban cho những người nghèo khổ, bệnh tật, bất hạnh; một đời sống lành thiện theo lời căn dặn của thánh Gioan Tông Đồ là anh em đừng phạm tội nữa, nghĩa là chúng ta làm chứng bằng một đời sống ăn ngay ở lành, tốt lành và thánh thiện như hình ảnh của Chúa… Tất cả đều là gương sáng và gương sống cho sứ mạng làm chứng cho Chúa trong thế giới hôm nay. Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức rằng làm chứng cho Chúa là bổn phận và trách nhiệm của chúng con, và xin Ngài giúp sức và chúc lành để chúng con chu toàn sứ mạng cao cả này. Amen.


 

GIỮ MÃI NIỀM VUI PHỤC SINH (Lm. Antôn Nguyễn Văn Tạo, SVD)

Nhà tâm lý và triết học William James nói rằng: “Trong mọi hoàn cảnh – hãy gìn giữ niềm tin. Vì điều quan trọng nhất trong cuộc sống chính là niềm tin: tin vào chính mình, tin vào ngày mai, tin vào những điều tốt đẹp của cuộc sống. Niềm tin sẽ truyền cho chúng ta nguồn sức mạnh lớn lao để vượt qua những khó khăn thử thách của cuộc sống.” – William James.

Nếu như mỗi người chúng ta không sống trong thực tại niềm tin đích thực mà chỉ sống với những mơ mộng của riêng mình thì sẽ dẫn tới ngõ cụt của cuộc đời. Chính vì vậy Đức Kitô Phục Sinh đã đến tỏ lộ căn tính của Người để chúng ta tin và nhận thấy được con đường sự sống trong hành trình theo Chúa.

Các bài đọc Chúa Nhật III Phục Sinh hôm nay, cho ta thấy một hành trình tìm đến với Đức Kitô Phục Sinh trong niềm tin. Cái chết đã bị đẩy lùi và nhường chỗ cho sự sống ngự trị. Ngài đã trả lại cho chúng ta phẩm giá đích thực là người. Ơn gọi Kitô hữu chúng ta được nhận ra và xác định vào Đức Kitô Phục Sinh.

Các bài đọc phụng vụ hôm nay liên hệ với nhau để khai mở tâm trí chúng ta hiểu hơn về việc Chúa Phục Sinh, để chúng ta lấy lại được tinh thần mới và nếp sống mới cho mỗi người.

1/ Đấng Phục Sinh – kế hoạch báo trước

 Trong bài đọc 1, thánh Phêrô xác nhận niềm tin rằng Đức Kitô, “Đấng khơi nguồn sự sống, đã chết và Thiên Chúa làm cho Người chỗi dậy” (Cv 3,15). Điều này không phải bây giờ mới biết nhưng Thiên Chúa đã báo trước việc chịu khổ hình của Người Tôi Trung qua miệng các ngôn sứ. Đây là một hành trình đầy chông gai để làm cho người nghe chấp nhận và tin vào Đức Giêsu Phục Sinh bởi vì những người Do-thái này, mấy ngày hôm trước đã hô hào đóng đinh Người. Do đó, họ khó lòng tin vào chuyện phục sinh.

Nhưng Phêrô nói cho họ biết  “Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống” và cho thấy rằng đây là kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước. Một cách tài tình, Phêrô đã dẫn chứng hình ảnh tiên trưng từ Sách Thánh về Người Tôi Trung. Và giờ đây lời tiên tri đó đã được ứng nghiệm. Phêrô đã không dùng dấu chứng nào khác đáng tin cho bằng việc dùng dấu chứng Sách Thánh để soi sáng cho họ về lòng tin vào Đức Giêsu, Đấng Phục Sinh. Không phải các tông đồ và môn đệ rao giảng suông về Đức Giêsu Phục Sinh nhưng các ông đã tin, đã xác quyết một cách mạnh mẽ rằng: “Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết: về điều này, chúng tôi xin làm chứng.” (Cv 3,15).

Quả thật, hành trình tìm về với Đức Giêsu Phục Sinh của mỗi người cũng thật chông gai trắc trở, và những ai đã tin vào Đức Giêsu Phục Sinh rồi thì cũng phải làm chứng, làm cho người khác nhận biết Ngài. Những ai nhận biết được Ngài thì hãy sám hối tội lỗi của mình, trở về với Thiên Chúa để được tha tội.

2/ Tin Vào Đấng Sống Lại

 Trong bài Tin Mừng, thánh Luca kể cho ta sự việc về Đức Kitô Phục Sinh đã hiện ra với các môn đệ. Hai môn đệ trên đường Emmau lúc này đã có mặt sau sự thất vọng và thất thểu trở về nhà sau một thời gian theo Thầy và đã chứng kiến những sự việc xảy ra với Thầy mình ở Giêrusalem, và mộng vàng đã tan theo mây khói khi Thầy bị giết. Trong suy nghĩ ban đầu theo Đức Giêsu của các môn đệ, họ đã tưởng rằng Ðức Giêsu sẽ cứu chuộc Ítraen và họ cũng sẽ có được một vị thế nào đó khi theo Người. Sự việc Đức Giêsu Phục Sinh là điều quá sức tưởng tượng đối với họ và khi Đức Giêsu hiện ra và ban bình an cho các ông thì “Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” (Lc 24,37). Các ông không thể tin được và lúc này Đức Giêsu Phục Sinh mới trấn an và hỏi xoáy vào lòng các ông: “Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?” (Lc 24,38-39). Rồi cũng giống như cách thức Phêrô bắt chước Người, Người dẫn dắt họ đi từ Sách Thánh và các sự việc đó được ứng nghiệm nơi Người.

Các môn đệ nghĩ rằng phải thấy Đức Giêsu tận mắt mới tin, và do đó Người mới nói với các ông: “Ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây!”

Đây chính là bước ngoặt để họ đánh tan sự cố chấp vốn có và nhận ra Người là Đấng Phục Sinh. Đó chính là ơn Chúa soi lòng mở dạ cho các ông để các ông tin và hiểu thấu những điều Sách Thánh đã nói về Người.

Để vượt thắng những chướng ngại vật đang ngăn cản các môn đệ nhận ra Đức Giêsu, rõ ràng phải có sự lắng nghe lời Sách Thánh được đánh động trong Đức Kitô và bởi Đức Kitô. Một khi tâm hồn của các ông mở ra nhờ được chứng kiến tận mắt và nhờ lời Kinh Thánh thì các ông mới đặt niềm tin trọn vẹn vào Đức Kitô Phục Sinh. Không còn niềm vui nào bằng việc thấy Đức Giêsu Phục Sinh, mọi sự mệt mỏi, chán chường biến mất. Một sức sống mãnh liệt đã lan tỏa cho cộng đoàn các môn đệ, các ông là những nhân chứng và phải thực hành lệnh truyền rao giảng Đức Kitô Phục Sinh để cho mọi người tin và được cứu độ.

3/ Áp dụng trong đời sống

 Việc nhận ra Đức Kitô Phục Sinh không phải là chuyện dễ dàng với con mắt trần tục của chúng ta. Đó là một hành trình tìm kiếm của mỗi người trong cuộc sống bằng con mắt đức tin. Đức Giêsu Phục Sinh vẫn đang hiện diện và đồng hành bên cạnh chúng ta. Và để gặp được Chúa, biết đâu là ý Chúa trong hành trình của cuộc sống mình, thì mỗi người chúng ta hãy đọc và suy niệm Lời Chúa mỗi ngày. Chính Thần Khí Đức Kitô Phục Sinh sẽ đánh động và chỉ cho ta biết Người là ai và phải làm gì. Với con người thời đại này, niềm tin dường như là một ảo tưởng đang thách đố mỗi người theo Chúa.

Trong xã hội con người hôm nay, niềm tin là một điều không thể thiếu để kiến tạo nên một cuộc sống tốt đẹp cho từng cá nhân. Không có niềm tin, con người sẽ dẫn đời mình tới ngờ vực tất cả. Và lúc đó người không có niềm tin sẽ khép kín đời mình vì hầu hết sự hiểu biết phải đặt nền trên niềm tin vào người khác để thăng tiến, để khám phá bản chất của cuộc sống. Ngay cả với thời đại khoa học tân tiến này, nhiều người cho rằng họ chỉ sống theo khoa học thực nghiệm, không có niềm tin nào xen vào cuộc sống của họ. Nhưng họ có biết đâu rằng nhiều điều các nhà thực nghiệm đã làm thì chính mắt họ không thấy và không chứng minh được, cho nên họ lại phải trải qua niềm tin vào các nhà khoa học. Niềm tin có thể nói là sức mạnh tuyệt vời của con người. Có tin tưởng nhau mới thấy cuộc đời phong phú tốt đẹp, có tin nhau ta mới tìm thấy sự yêu thương, chia sẻ, giúp nhau sống tốt giữa cuộc đời trần gian đầy gian nan và thách đố. Và hơn thế nữa, mỗi người hãy đặt cho mình câu hỏi về ý nghĩa và chung cuộc đời mình sẽ đi về đâu. Niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh và sống Lời Người sẽ giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc đích thực như trong bài đọc 2, thánh Gioan cho chúng ta biết: “chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giê-su Kitô, Đấng Công Chính. Chính Đức Giê-su Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa.” (Ga 2,1-2).

Như chúng ta đã biết, thánh Vinh Sơn Phaolô là một vị thánh đã thấy được Đức Kitô Phục Sinh, ngài luôn làm việc bác ái cho đến tuổi già; nhiều đêm tuyết sa gió lạnh, ngài vẫn lang thang tìm kiếm những cụ già run rẩy giữa cảnh màn trời chiếu đất, hay những trẻ thơ bị bỏ rơi nơi góc đường phố. Ngài thường nói: “Đức bái ái chân thực thì mở tay ra và nhắm mắt lại”. Và như vậy, chúng ta hãy mở bàn tay ra để đón Chúa trong những thân phận người nghèo, nhắm mắt lại để nhìn thấy Chúa trong đức tin.

Xin cho niềm tin Phục Sinh vào Đức Kitô thay đổi đời sống chúng ta như đã từng thay đổi lối nghĩ, cách sống của các môn đệ. Và niềm tin ấy giúp chúng ta dám vượt qua những cám dỗ thấp hèn để sống một cuộc đời cao đẹp hơn, dám làm chứng cho Tin Mừng Phục Sinh của Chúa bằng đời sống lắng nghe và thực thi Lời Chúa mỗi ngày giữa đời thường. Amen.


CHỨNG NHÂN VỀ ĐẤNG PHỤC SINH (Lm. Giuse Nguyễn Văn Dũng, SVD)

Ngay từ ngày Phục Sinh, Chúa Giêsu đã trở về với sự sống vinh quang của Người. Tuy thế, Người còn muốn nhiều lần gặp gỡ các môn đệ, đó là để giúp họ hiểu rằng: Người đã Phục Sinh từ trong cõi chết và nay Người vĩnh viễn bước vào “cuộc sống viên mãn”. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, thánh Luca đã thuật lại một trong những cuộc gặp gỡ này, và đây là lần thứ ba Chúa Giêsu hiện ra với các Tông Đồ và ban bình an cho các ông. Với sự bình an này, Chúa muốn các tông đồ hãy xác tín về sự Phục Sinh của Người, và hãy vui mừng làm chứng nhân cho Đấng phục sinh.

Đức Kitô trao ban bình an và củng cố lòng tin của các môn đệ

“Bình an cho anh em!” (c.36b)

Lời đầu tiên của Chúa Phục Sinh gửi tới các môn đệ là lời: “Bình an cho anh em!” Đọc những trình thuật Phục Sinh trong bốn cuốn sách Tin Mừng, chúng ta nhận thấy các tác giả đều nhắc lại lời chào của Đức Giêsu khi hiện ra đối với các môn đệ: “Bình an cho anh em”. Chúng ta có thể thắc mắc tại sao Đức Giêsu chúc bình an cho các ông nhiều như vậy. Hẳn nhiên, đây là giai đoạn các môn đệ đang trải qua cơn khủng hoảng và đầy sợ hãi sau thảm cảnh thập giá. Vì thế, lúc này là lúc các ông rất cần có bình an, không chỉ là bình an thuộc diện thể lý, nhưng quan trọng hơn đó là bình an trong sâu thẳm nội tâm. Sự bình an này chỉ có thể có khi được chính Đấng Bình An ban cho, còn mọi sự bình an khác chỉ là giả tạo. Bình An của Chúa không giống với bình an của thế gian. Đó là chính sự hiện diện của Chúa trong thâm sâu tâm hồn người môn đệ, bình an ngay cả khi đang sống trong nỗi sợ hãi và hoang mang.

“Sao lòng anh em còn ngờ vực” (c.38b)

Để trấn an và xóa tan sự hoài nghi nơi các môn đệ, Ngài cho các ông xem thấy những vết thương ở chân và tay, Ngài ăn miếng cá nướng trước mặt các ông. Ngài cho thấy thân xác ấy không phải là của một hồn ma, nhưng là thân xác vinh hiển của Đấng Phục Sinh. Thân xác Phục Sinh ấy vẫn còn mang những vết thương ở tay, chân và cạnh sườn, chứng tích của tình yêu thương mà Ngài đã trải qua. Thánh sử Luca không chỉ nhắm đến chứng minh việc Chúa sống lại bằng những dấu hiệu vật chất bên ngoài mà ngài muốn đi sâu hơn vào Kinh Thánh. Việc Chúa sống lại đã được báo trước bằng cả chiều dài của lịch sử của dân Do Thái, từ ông Môsê qua các tiên tri và cả Thánh Vịnh. Ngày hôm qua, khi đồng hành với hai môn đệ trên đường về Emmau, Ngài cũng mở trí các ông bằng Kinh Thánh, hôm nay, Ngài cũng làm như thế. Như vậy, cuộc Thương khó mà Chúa Giêsu mới trải qua đã ứng nghiệm các lời Kinh thánh viết về Ngài. Đó không phải là sự thất bại, mà là chiến thắng, là vinh quang mà các môn đệ cần phải xác tín một cách chắc chắn về thầy Giêsu.

Đức Kitô giao phó cho các môn đệ sứ mạng loan báo Tin Mừng

“Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối…” (c.47)

Chính Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay, đã trao phó cho các môn đệ công việc loan báo này, tức làm chứng về Người cho muôn dân, kêu gọi sự sám hối để được ơn tha tội được khởi từ Giêrusalem. Đây là khởi điểm cụ thể, và tác giả Luca đã áp dụng lệnh truyền này khi viết sách Tin Mừng khởi đầu từ sự kiện đã xẩy ra ở Giêrusalem, trong Đền Thờ. Sự kiện ông Zacaria được sứ thần báo tin về việc Gioan ra đời (Lc1, 5-25); sách Công vụ các tông đồ khởi từ Giêrusalem (Cv1,8). Tuy nhiên, Giêrusalem không phải chỉ là khởi điểm địa lý cho việc truyền giáo, hơn nữa nó còn là một khởi điểm lịch sử ơn cứu chuộc. Tin Mừng Luca nhấn mạnh đặc biệt việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem để thi hành và hoàn tất mầu nhiệm vượt qua (Lc 9,51). Chính tại Giêrusalem, Đức Kitô phải chịu khổ nạn và ngày thứ ba Người sống lại từ cõi chết…để nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân sám hối để được ơn tha tội. Hiểu theo ý nghĩa lịch sử này, thì chỉ có ơn cứu độ khởi từ các biến cố ấy tại Giêrusalem.

Sám hối hoặc hối cải Kitô giáo không phải như là chuyển từ đảng phái này sang đảng phái khác, từ nhóm tôn giáo này qua một nhóm khác. Kêu gọi sám hối có nghĩa là kêu gọi cải tổ bản thân con người. Thế nhưng, con người là thành phần của một xã hội, một thế giới, một lịch sử. Vì thế, công cuộc rao giảng cho muôn dân không chỉ giới hạn trong việc công bố sứ điệp của Chúa Giêsu cứu độ, mà còn có nghĩa là giáo dục muôn dân nhằm giúp họ tìm lại được chương trình của Thiên Chúa về con người.

“Chính anh em làm chứng về những điều này” (c.48)

Bình an là món quà, là ân huệ mà các môn đệ đã được đón nhận cách nhưng không từ Chúa. Như thế, ân huệ luôn đi đôi với sứ mạng; và đó chính là cung cách hành động của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ, trong lịch sử của Giáo hội. Sứ mạng loan báo Tin Mừng luôn là việc cấp thiết, mang tính sống còn đối với người môn đệ của Chúa. Chúa Giêsu đặt các môn đệ làm chứng nhân chính thức về Tin Mừng của Người; các ngài sẽ đứng ra đảm bảo cho đức tin. Sự bình an và kinh nghiệm đức tin mà các môn đệ đã được đón nhận từ Chúa Giêsu Phục Sinh sẽ kèm theo sứ mạng làm chứng nhân, sứ mạng này không được miễn chước, mà gắn liền với những gian khổ, thử thách, ngục tù, chết chóc… như bao cuộc đời của các môn đệ Chúa suốt hơn hai ngàn năm nay.

Cũng như xưa các môn đệ là chứng nhân của Đức Giêsu Phục Sinh cho muôn dân, mỗi người chúng ta với tư cách là môn đệ của Người cũng được mời gọi tiếp tục công cuộc chứng nhân này. Lời mời gọi này nhắc chúng ta nhớ đến bổn phận của mình, bổn phận truyền giáo cho thế giới. “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân”. Chúng ta phải tiếp tục sứ mạng của các tông đồ, vinh dự đứng vào hàng ngũ các chứng nhân. Ðể truyền giáo, chúng ta phải tương quan mật thiết với Chúa Giêsu, có kinh nghiệm gặp gỡ Người thật sâu lắng, sống với cái chết của Người mỗi ngày và nếm được niềm vui phục sinh Người ban tặng. Ðể truyền giáo cần có nhiều tình yêu: tình yêu đối với Chúa Giêsu và đối với con người. Chính vì mến yêu Người mà ta muốn cho muôn dân nhận biết Người. Chính vì mến yêu mọi người mà ta muốn chia sẻ hạnh phúc mình đang hưởng.

Bài trướcĐẠI LỄ KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA TẠI GX. AN MỸ 2024
Bài tiếp theoLỜI SỐNG (Chúa Nhật, Tuần 3 Phục Sinh – B)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

The reCAPTCHA verification period has expired. Please reload the page.