Lời Chúa + Bài giảng Chúa Nhật, tuần 11 Thường Niên – Năm A

0
506

Bài đọc 1: Xh 19,2-6a; Bài đọc 2: Rm 5,6-11;

Tin mừng: Mt 9, 36 – 10, 8

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng, liền động lòng xót thương họ: vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”.

Và Người liền triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền.

Ðây là tên của mười hai tông đồ: trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em ông;

Giacôbê con của Giêbêđê và Gioan em ông;

Philipphê và Bartôlômêô;

Tôma và Matthêu người thu thế;

Giacôbê con của Alphê và Tađêô;

Simon người Cananêô và Giuđa Iscariốt, kẻ nộp Người.

Chúa Giêsu sai mười hai ông này đi và truyền lệnh cho các ông rằng: “Các con đừng đi về phía dân ngoại, và đừng vào thành các người Samaritanô.

Nhưng tốt hơn, các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: “Nước Trời đã đến gần”.

Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ.

Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không”.


Chia sẻ Tin Mừng

ĐỒNG CẢM VÀ SAI ĐI (Lm. Antôn Trần Xuân Sang, SVD)

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng, liền động lòng xót thương họ: vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”.

Và Người liền triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền.

Ðây là tên của mười hai tông đồ: trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em ông; Giacôbê con của Giêbêđê và Gioan em ông; Philipphê và Bartôlômêô; Tôma và Matthêu người thu thuế; Giacôbê con của Alphê và Tađêô; Simon người Cananêô và Giuđa Iscariốt, kẻ nộp Người.

Chúa Giêsu sai mười hai ông này đi và truyền lệnh cho các ông rằng: “Các con đừng đi về phía dân ngoại, và đừng vào thành các người Samaritanô. Nhưng tốt hơn, các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: “Nước Trời đã đến gần”. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phong, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không”.

Bài Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến một khoảnh khắc thấm đượm tình người nơi Chúa Giêsu. Khi nhìn thấy đám đông dân chúng, Tin Mừng viết: “Người chạnh lòng thương vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không có người chăn” (Mt 9,36).

Đó không chỉ là một ánh mắt thương cảm, mà là ánh nhìn từ trái tim mục tử – trái tim dẫn đến hành động cụ thể: gọi các môn đệ và sai họ lên đường, tiếp nối công cuộc rao giảng Tin Mừng và chữa lành của chính Ngài.

Trước hết, chúng ta thử tìm hiểu một số câu từ chính trong đoạn Tin Mừng hôm nay. “Người chạnh lòng thương vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không có người chăn” (Mt 9,36). Trong tiếng  Hy Lạp “splagchnizomai” được dịch là “chạnh lòng thương”, diễn tả một rung động từ sâu thẳm nội tâm – không đơn thuần là xúc động nhất thời, nhưng là sự xót thương thúc đẩy hành động. Chúa Giêsu không bị cuốn theo phong trào hay thành tích, mà làm mọi sự vì yêu thương những con người bị bỏ rơi, không người hướng dẫn – như đàn chiên không có mục tử. Vì thế, “Người chạnh lòng thương” vì những người bé mọn ấy không có nơi nương tựa và vắng bóng những người ‘mục tử’. Ngày nay, không ít người cũng “lầm than vất vưởng”: những bạn trẻ mất phương hướng, những người đau khổ không ai nâng đỡ, những tín hữu khô khan đức tin. Hội Thánh hôm nay cần có cái nhìn và trái tim của Đức Kitô, một trái tim của người mục tử luôn biết xúc động, thổn thức và dấn thân vì những con người ấy.

Kế đến, Chúa Giêsu mong muốn những người đi theo Ngài phải có hành động cụ thể, Ngài không chỉ nhìn thấy nhu cầu, mà Ngài còn mời gọi cầu nguyện và kêu gọi dấn thân: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ đến gặt lúa về.” (Mt 9,37). Cánh đồng truyền giáo thì rộng lớn – từ gia đình, môi trường học đường, cho đến mạng xã hội – nhưng những người sẵn sàng ra đi với trái tim phục vụ thì quá ít.

Chúa Giêsu không chỉ cảm thương trước nỗi khổ của con người, mà còn chủ động mời gọi, huấn luyện và sai đi những cộng sự viên, những môn đệ cho sứ mạng cứu độ. Việc Tin Mừng nhấn mạnh đến tên gọi cụ thể của các Tông đồ (Mt 10,2-4) cho thấy tính cá vị trong ơn gọi: mỗi người được gọi đích danh, với tất cả sự giới hạn và yếu đuối của mình.

Ơn gọi không hệ tại ở sự xứng đáng, mà ở lòng sẵn sàng. Thiên Chúa không chọn những người hoàn hảo, nhưng chọn những ai sẵn lòng bước theo Ngài. Ngay cả Giuđa, người sau này phản bội, cũng từng được Chúa tín nhiệm và trao sứ mạng. Điều ấy mời gọi mỗi chúng ta sống khiêm tốn và cậy trông: không ai bị loại trừ khỏi kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, trừ khi chính họ khước từ tình yêu đó.

Sứ mạng của các Tông đồ bắt đầu bằng một lời mời gọi dứt khoát: “Hãy đến với các con chiên lạc nhà Israen.” (Mt 10,7). Họ không được mời gọi ở lại trong đền thờ hay hội đường, mà được sai đến với những con người cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể, để loan báo rằng “Nước Trời đã đến gần”.

Việc loan báo ấy không chỉ bằng lời rao giảng, mà còn bằng những hành động cụ thể của tình thương: chữa lành bệnh tật, xua trừ sự dữ và mang lại bình an. Chúa không chỉ sai các môn đệ đi, mà còn trao ban quyền năng và nâng đỡ họ bằng ân sủng của Ngài (x.Mt 10,1). Không ai được sai đi mà thiếu sự đồng hành của Chúa. Đó chính là niềm an ủi và khích lệ lớn lao cho tất cả những ai đang dấn thân phục vụ trong Hội Thánh hôm nay: chúng ta không đơn độc, vì Đấng sai chúng ta ra đi cũng là Đấng luôn ở cùng chúng ta.

Do đó, sứ vụ loan báo Tin Mừng không thể là một công việc theo mùa hay làm cho có, mà phải khởi đi từ một trái tim biết cảm thông. Người mục tử, người được sai đi, người làm việc tông đồ cần phải có ánh nhìn của Chúa: nhìn thấy nỗi khao khát được yêu thương, được nâng đỡ nơi người trẻ, nơi người nghèo, nơi người thất vọng, nơi những ai đang yếu đức tin.

Và trước hết, lòng xót thương ấy cần được bắt đầu trong chính gia đình – nơi đầu tiên của đời sống Kitô hữu: vợ chồng biết tha thứ, cha mẹ hiểu con cái, con cái hiếu thảo với cha mẹ, anh chị em biết yêu thương nhau. Chính từ nơi ấy, Tin Mừng bắt đầu được gieo vãi.

Chúa không chỉ gọi linh mục hay tu sĩ ra đi truyền giáo, nhưng Ngài mời gọi tất cả những ai đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội trở thành người gieo và người gặt trong cánh đồng đức tin. Hãy bắt đầu ngay nơi mình sống: gia đình, trường học, chợ búa, mạng xã hội… Hãy sống đức tin cách cụ thể, sáng tỏ và nhân ái, để chính cuộc đời mình trở thành một lời loan báo sống động.

Chúa Giêsu từng nhắc nhở: “Anh em đã được cho không, thì hãy cho không như vậy” (Mt 10,8). Mọi công việc tông đồ phải được thực hiện vì yêu thương, không vì danh lợi hay sự đền đáp từ người nhận lãnh. Dù là mục tử hay giáo dân, chúng ta được mời gọi phục vụ cách vô vị lợi, không so đo, không tranh giành, nhưng quy hướng mọi việc về Chúa Kitô – Đấng đã hiến mạng sống vì đoàn chiên.

Lời Chúa hôm nay mở ra cho chúng ta một hướng đi rõ ràng: từ lòng xót thương đến hành động truyền giáo. Chúa Giêsu không mời gọi chúng ta chỉ dừng lại ở sự cảm thông thuần túy, nhưng thúc giục chúng ta can đảm lên đường, bước ra khỏi vùng an toàn, để làm chứng cho Tin Mừng giữa lòng đời. Ước gì mỗi người – dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân đều biết chạnh lòng thương trước nỗi đau và sự khủng hoảng của thế giới hôm nay; sẵn sàng đáp lại lời mời gọi của Chúa; và nhất là, trở thành khí cụ của tình thương, bình an và Tin Mừng giữa lòng đời.

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…” (Mt 9,37). Xin cho chúng ta đừng là người đứng ngoài cuộc, nhưng biết trở thành những thợ gặt quảng đại, khiêm tốn và nhiệt thành, để góp phần làm cho cánh đồng Hội Thánh hôm nay trổ sinh hoa trái dồi dào cho Nước Trời. Amen!


 

SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO (Tu sĩ G. B. Nguyễn Văn Đồng, SVD)

Công Đồng Va-ti-can II trong sắc lệnh về Hoạt động Truyền giáo của Giáo Hội đã minh định rằng “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo Hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Thiên Chúa Cha” (AG 2). Như vậy, lời minh định này cho thấy truyền giáo là bản chất của Giáo Hội, Giáo Hội là truyền giáo. Nếu không truyền giáo thì Giáo Hội không còn là Giáo Hội nữa. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho ta thấy sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội là lệnh truyền của chính Đức Giê-su: “Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng:… Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần… Anh em đã được cho không thì cũng phải cho không như vậy” (x. Mt 10,5-8). Vậy tại sao Giáo Hội phải truyền giáo?

  1. Sứ vụ truyền giáo là lệnh truyền của Đức Giê-su

Trước tiên, sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội được nhận lãnh từ Đức Giê-su. Ngài đã đi khắp nơi từ thành thị đến thôn quê, rao giảng dạy dỗ, hướng dẫn và đem bình an cho thân xác và tâm hồn con người. Ngài đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho dân chúng để đem lại ơn cứu độ cho họ. Ngài ưu tư, thao thức làm sao cho tất cả mọi người được nghe biết Tin Mừng Thiên Chúa. Mối ưu tư ấy đã được diễn tả trong lúc Ngài thổ lộ tâm tình với các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,37-38).

Đức Giê-su bắt đầu đi rao giảng nhiều nơi và bắt đầu thu hút dân chúng. Đi đến đâu Người cũng thấy dân ở vào trường hợp đáng thương, vì họ bị những khoản luật lệ bó buộc, khắt khe, và vì họ vất vưởng và dường như niềm hy vọng đang vơi dần. Vì thế Đức Giê-su động lòng thương họ. Ngài còn gọi thêm các cộng sự viên, là các môn đệ để cùng với Người chăm sóc dân chúng trong công cuộc đem Tin Mừng giải thoát cho mọi thân phận con người. Nơi Đức Giê-su, chính Thiên Chúa đã đến chữa lành và cưu mang những vết thương của nhân loại. Nhưng Người cũng cần những thợ gặt cho Nước Trời, tức là những người truyền đạt lời mời gọi của Thiên Chúa và quy tụ những cộng đoàn dân thánh. Chúa nói “hãy xin”, hãy cầu nguyện, biết đâu bạn sẽ hiểu ra rằng Thiên Chúa gọi bạn. Chắc hẳn mọi cộng đoàn Ki-tô hữu đều cầu xin với Chúa, và Thánh Thần làm cho xuất hiện trong lòng cộng đoàn những đặc sủng, những thừa tác viên và mục tử cần thiết để đáp ứng các nhu cầu. Nhưng ở đây, Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta cầu xin Thiên Chúa sai nhiều tay thợ biết xả thân cho công cuộc truyền giáo: họ luôn là quá ít, nhất là để loan báo Tin Mừng và xây dựng Hội Thánh giữa tầng lớp người nghèo.

  1. Cách thức thực thi sứ vụ của Đức Giê-su

Đức Giê-su thi hành sứ vụ cứu thế bằng cách đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền. Người thi hành sứ vụ đó là để trung thành với thánh ý của Chúa Cha và đồng thời trở nên gương mẫu cho các Tông Đồ, và cho những người làm việc tông đồ sau này trong công cuộc truyền giáo. Đức Giê-su đi rao giảng nhiều nơi. Ngài có ý dạy những ai là người môn đệ phải biết di chuyển hết nơi này đến nơi khác, chứ không được an phận một nơi nào cả, mời gọi họ đi ra khỏi “vùng an toàn” để đến vùng ngoại biên.

Mẫu thức thi hành sứ vụ của Đức Giê-su cũng là gương mẫu cho người môn đệ của Người. Theo bài Tin Mừng, Đức Giê-su đã dạy họ rằng, hãy dám ra đi và tìm đến với người khác. Ra đi dĩ nhiên không những có nghĩa là rời bỏ nơi này để đến nơi khác, mà thiết yếu là thái độ ra khỏi chính mình, ra khỏi vỏ ốc của mình để đến với tha nhân. Đức Giê-su nhắc nhở các môn đệ, trong khi đi đến với những người khác, phải luôn có tinh thần quên mình để phục vụ, vì người môn đệ đã lãnh được tình yêu Thiên Chúa thì họ cũng phải biết đáp trả tình yêu đó bằng cách chia sẻ Tình Yêu Thiên Chúa cho mọi người: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8).

  1. Sứ vụ của chúng ta hôm nay

Ngày nay, các cộng đoàn Ki-tô hữu cần biểu lộ được những dấu chỉ về ơn cứu độ mà họ rao truyền. Thái độ “cho không” là cần thiết tỏ hiện niềm vui phục vụ. Đức Giê-su yêu cầu mỗi người chúng ta đem các khả năng của mình ra mà phục vụ nhân loại. Vì thế, Giáo Hội hôm nay luôn ý thức sứ vụ mục tử là có trái tim biết rung động, biết “chạnh lòng” với anh chị em. Ra đi loan báo Tin Mừng còn có nghĩa là ra đi khỏi con người của mình, để mặc lấy cái nhìn nhạy cảm hơn trước sự hiện diện của tha nhân đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta. Chúng ta đang sống trong một thế giới luôn biến chuyển không ngừng, trong đó có lãnh vực tư tưởng và nhận thức. Nhiều trào lưu, triết thuyết mới làm cho con người thời nay dần xa rời những giá trị của Tin Mừng. Những chuẩn mực về luân lý và đức tin đang dần được nhìn nhận bằng mẫu thức lạ lẫm hơn. Chủ nghĩa tự do ngày càng được con người cổ xúy quá mức. Đặc biệt, hơn lúc nào hết, quá trình tục hóa đang diễn ra với tốc độ chóng mặt. Tất cả những điều này đòi hỏi nơi các nhà truyền giáo có cách tiếp cận và đối thoại với con người thời nay cách mới mẻ, dựa trên những dấu chỉ mới của thời đại. Trong Thông Điệp Evangelii Nuntiandi, Đức Phao-lô VI đã nói :’Người thời nay sẵn sàng nghe những nhân chứng hơn là thầy dạy và người ta có nghe theo thầy dạy là vì thầy dạy cũng là nhân chứng “(số 41). Còn theo Đức Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô thì: “Sức thuyết phục của Chúa Ki-tô rao giảng chỉ có thể giải thích được là tất cả lời nói, dụ ngôn và suy luận của Ngài không bao giờ tách khỏi đời sống Ngài. Theo nghĩa đó, tất cả cuộc đời Chúa Ki-tô là một bài giảng liên tục…” (Catechesi tradendae, số 9). Như vậy, Giáo Hội không ngừng nhắc nhở con cái góp phần cho sứ mạng truyền giáo, đồng thời phải nỗ lực thích ứng để có thể đem Tin Mừng cho nhân loại trong hoàn cảnh mới.

Trong bài đọc thứ nhất, ta thấy lệnh truyền của Thiên Chúa với dân Ít-ra-en, một dân tộc được Thiên Chúa thánh hiến. Ngài đã ký kết một giao ước với dân. Theo đó, “nghe” và “tuân giữ” Lời là một mệnh lệnh thiêng liêng, là lời đáp trả cho ơn giải thoát mà Thiên Chúa đã làm cho dân: “Nghe Lời Ta và giữ giao ước của Ta” (x. Xh 2,5-6a). Ngày nay, chúng ta, những Ki-tô hữu, cũng là những người được thánh hiến qua giá chuộc của Con Thiên Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô. Là thân phận con người tội lỗi và bất toàn, nhưng chúng ta đã được ân sủng Chúa lấp đầy qua cái chết và sự Phục Sinh của Chúa Giê-su. Khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội chúng ta là “sở hữu riêng” của Thiên Chúa, được mời gọi “nghe”, “tuân giữ” Lời. Trong đó, chức năng ngôn sứ đòi hỏi mỗi tín hữu thực thi sứ vụ, làm chứng cho những giá trị Tin Mừng Nước Thiên Chúa nơi môi trường sống của mình. Mỗi tín hữu cũng đồng thời là những chứng nhân, đời sống của chúng ta phải phản ánh được những giá trị Tin Mừng, tức phải có trái tim biết “chạnh lòng thương”, biết “cho không” những ân huệ mà ta đã lãnh nhận từ Thiên Chúa.

Hôm nay rất nhiều Ki-tô hữu tiếp tục dấn thân vào mọi môi trường sống để làm chứng cho Chúa và những giá trị Nước Trời. Đặc biệt, có thể kể đến các tu sĩ nam nữ dấn thân vào các bệnh viện dã chiến để chăm sóc các bệnh nhân đợt dịch Covid vừa rồi. Những tu sĩ này sống theo lời mời gọi “ra đi”, và có tấm lòng nhạy cảm biết rung động với anh chị em. Nhờ sự ân cần chăm sóc và tấm lòng mà họ đã chữa lành nhiều tâm hồn đau khổ vì bệnh tật, giúp các bệnh nhân nhận biết và tin theo Chúa. Ước gì Lời Chúa hôm nay giúp mỗi người Ki-tô hữu chúng ta ý thức hơn về sứ vụ truyền giáo, từ đó biết sẵn sàng ra đi phục vụ Chúa trong anh chị em. Amen.

 

Bài trướcChú giải Tin Mừng Chúa Nhật XI Thường Niên, năm A (Mt 9,36 – 10,8)
Bài tiếp theoTRAO TÁC VỤ ĐỌC SÁCH VÀ GIÚP LỄ CHO 8 THẦY DÒNG NGÔI LỜI