VĨNH TUY TRONG TÔI: NƠI SÔNG LÔ BỒI ĐẮP NHỮNG HẠT GIỐNG ĐỨC TIN

0
614

Vĩnh Tuy trên đỉnh núi          
Đêm về sáng đầy sao
Trăng chiếu vào u tối
Ngỡ ngàng cõi trời cao

Ngày ra đi mưa vội
Dưới chân lên đỉnh đồi
Nói chi lời ly biệt
Thời gian ơi ngừng trôi

Tôi nhớ những con người
Ở vùng núi xa xôi
Nhớ những em bé nhỏ
Chỉ lặng im – nhìn – cười

 

Dòng sông Lô vẫn chảy
Chở cả một bầu trời
Chở cả những con người
Vào trong trái tim tôi!

Và trên những ngọn đồi
Những cây xanh thẳng đứng
Người Vĩnh Tuy kiên vững
Hiên ngang giữa núi rừng

Hai từ Vĩnh Tuy thôi
Cũng làm ta bồi hồi
Có duyên gặp lại nhé
Vĩnh Tuy, Vĩnh Tuy ơi!

Thơ: Giuse Hồ Xuân Hương

Một vùng địa dư được cấu thành bởi những yếu tố vật chất nhưng chính con người mặc cho nó những cảm xúc và ý nghĩa. Vĩnh Tuy đối với tôi trước đây chỉ như một cái tên địa lý, thì giờ đây khi nhắc đến, Vĩnh Tuy hiện lên trong tôi cả một bầu trời của ký ức, kỷ niệm, trong đó có những hình ảnh của thiên nhiên, con người và cả những câu chuyện có cả nước mắt và nụ cười.

Cách Hà Nội hơn 200 km về phía Tây Bắc, tôi đến mục vụ hè tại Giáo xứ Vĩnh Tuy, thuộc thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Khi đến một vùng đất mới lạ người ta thường mường tượng và tự hỏi đủ điều. Tôi cũng vậy. Khi chiếc xe khách lăn bánh cũng là lúc tôi bắt đầu những dòng suy nghĩ của mình: Giáo xứ trông như thế nào? Giáo dân ra sao? Tôi sẽ làm những công việc gì? vv. Và khi đang mải mê tưởng tượng thì một giọng nói bất ngờ vang lên:

— Ai… Vĩnh Tuy chuẩn bị xuống ạ!

Ồ! Đến nơi rồi sao! Chiếc xe dừng lại ở một ngã ba nhỏ và sau một vài liên lạc với cha phó, tôi được một anh giáo dân chở về giáo xứ. Cách ngã ba không xa, chưa đến 1 cây số, giáo xứ nằm trên một ngọn đồi nhỏ, phóng tầm nhìn ra xa phía trước là con sông Lô bạc màu phù sa, phía sau lưng là dãy núi chạy bao quanh như một bức tường thành sừng sững. Một vị trí địa linh “Tựa Sơn Hướng Thủy”. Giáo họ nhà xứ lại được đặt tên là Hàm Rồng, như vậy con rồng này đầu hướng đến sông Lô, thân mình trải dài gần 40 km đến giáo điểm Vĩ Thượng, chạm đuôi vào những dãy núi xanh hùng vĩ. Liệu rằng đây có phải là một vùng địa linh, và nơi vùng địa linh ấy có sản sinh ra những nhân kiệt hay không? Mời bạn cùng tôi khám phá.

Những ngày đầu tham dự Thánh lễ ở một vùng đất mới, lòng tôi hơi trĩu xuống vì thấy số lượng người tham dự khá khiêm tốn, chỉ vài chục người trong các lễ thường. Nhưng thật khó để đưa ra một nhận định nếu không tìm hiểu bối cảnh của một sự kiện phải không? Qua những chia sẻ của quý cha, tôi được biết Giáo xứ chỉ có hơn 600 giáo dân nhưng chia thành nhiều giáo họ và giáo điểm. Giáo điểm xa nhất là Vĩ Thượng (~40km), Giáo họ Vĩnh Phúc (~30km), Hùng An (~10km), Giáo họ Ba Luồng (~7km) và Giáo họ nhà xứ Hàm Rồng. Những người giáo dân chủ yếu là người di cư gốc Thái Bình, Nam Định, Bùi Chu, vv. Họ mới lên đây lập nghiệp khoảng 2-3 thế hệ.

Giáo xứ chỉ mới được thành lập hơn 10 năm, và có thời điểm trong quá khứ phải trải qua những thời kỳ đen tối do chiến tranh loạn lạc, đất đai bị chiếm dụng, giáo xứ phải di dời, hơn 40 năm không có Thánh lễ (1951-1992). Nhìn lại một chút quá khứ như vậy để thấy rằng tại sao nơi đây được gọi là Giáo xứ Vĩnh Tuy — là ước mong lâu bền, trường tồn, vĩnh viễn. Giữa những đau thương của lịch sử, giữa những loạn lạc, mất mát, cha ông vẫn son sắt với đức tin của mình, đó chẳng phải là nhân kiệt đó sao? Và với những gì còn sót lại ấy, Thiên Chúa lại làm cho những hạt giống đức tin phát triển, và giờ đây lại được tiếp nối qua sự chăm sóc của các linh mục tu sĩ Dòng Ngôi Lời (SVD).

Tuy khoảng cách xa nhưng lòng không xa. Các cha vẫn dâng Thánh lễ đều đặn và thăm viếng các gia đình tại các giáo họ, giáo điểm. Việc mục vụ nơi đây đòi hỏi một sự dấn thân, kiên nhẫn và còn cả sự nhạy bén nữa. Tại sao tôi lại nói như vậy? Số là, mới về đây được 2 ngày thì giáo xứ nhận tin rất buồn: gia đình kia có hai con bị đuối nước tại Quảng Ninh. Gia đình đã di cư rất lâu, không có nơi ở cố định và chỉ còn vài người thân ở giáo xứ. Khi đưa thi thể hai cháu về, dự định sẽ để linh cữu ở ngôi nhà hoang trước đây là hội trường thôn.

Thế nhưng, quý cha không muốn để ở một nơi lạnh lẽo như vậy nên đã sắp xếp để ở nhà thờ, để mọi người có thể đến thăm viếng, thắp hương, cũng như làm các nghi thức an táng. Nhờ vậy, gia đình được đồng cảm và thấy được sự yêu thương từ giáo xứ. Quả thật, con người ta được biến đổi đâu phải chỉ nhờ sự răn đe, hình luật, nhưng hơn hết bằng sự cảm động trước một nghĩa cử yêu thương cao đẹp. Đó cũng là một kinh nghiệm quý báu cho tôi, vì Thiên Chúa cũng đã và đang kiên nhẫn với tôi như vậy.

Trở lại với những công việc của giáo xứ, cũng vào mỗi dịp hè, các cha lại quy tụ và tổ chức các chương trình hè cho giáo dân và các em thiếu nhi. Cùng giúp với tôi có thầy Tùng. Chúng tôi dạy các lớp giáo lý Xưng tội, Thêm sức, dạy đàn, tập hát cho giới trẻ, sinh hoạt thiếu nhi và tổ chức một số chương trình lễ quan thầy, tổng kết giáo lý, hội chợ, trại hè. Nơi thầy — người bạn đồng hành với tôi — mà tôi cũng học được nhiều điều trong đời sống nhân đức, mối tương quan và tình huynh đệ SVD. Công việc cũng khá bận rộn nhưng càng bận rộn lại càng nhiều niềm vui sứ vụ. Quả thật, khi làm việc con người gần con người hơn, và đi vào tương quan của sự đồng hành, cảm thông, chia sẻ và yêu thương.

Có một điều mà ai cũng hân hoan là ngày hội chợ và trại hè. Những ngày trước đó mưa nhiều lắm, ai cũng lo lắng và sợ mưa thì ngày hội sẽ khó khăn. Vậy mà đến ngày trại mưa tạnh, trời êm dịu, mát mẻ cả ngày; đến tận tối khuya khi lửa trại đã xong trời mới mưa trở lại cho đến những ngày tiếp theo. Đúng là địa linh, nơi đây Chúa gìn giữ đổ đầy hồng ân. Khi ngồi kết thúc trại hè, tôi nói với cha: “Chắc Chúa thương ban ơn vì các em thiếu nhi sáng nào cũng dậy đọc kinh sáng đó cha”. Vì mỗi sáng các em phải thức dậy sớm và có mặt lúc 5h sáng để đọc kinh phụng vụ với các cha và các thầy. Thấy các em dậy sớm cũng đáng thương, cái tuổi ăn tuổi ngủ ấy mà. Nhưng lời cầu nguyện của người công chính được Chúa nhậm lời, và có ai công chính hơn các em thiếu nhi nữa?

Tuy nhiên, đám trẻ này lắm lúc cũng quậy lắm đấy. Chờ thầy đi ngủ là chúng lại hoạt động ngay, khi đến phòng kiểm tra lại thấy nằm im như tờ. Còn nhỏ mà nhanh nhạy như một đặc công hay diễn viên chuyên nghiệp vậy. Cuối tuần các em được cha xứ cho đi “tàu lượn siêu tốc” (ngồi sau thùng xe bán tải) trở về nhà, thấy đứa nào cũng vui như trẩy hội. Tôi cũng xin cha cho đi thử tàu lượn với các em, nhưng ôi, xuống khỏi tàu lượn mắt tôi hoa lên và thân xác rũ rượi không thôi.

May là sau đó tôi được bồi bổ khi gia đình các em mời ở lại dùng cơm. Mà cũng thú vị thay, việc mời các cha, các thầy đến nhà dùng cơm như là văn hóa của các gia đình nơi đây. Mời cơm vì sinh nhật con, mời cơm vì lễ hỏi, lễ giỗ; mời cơm vì con sắp đi xa hay có người về thăm nhà, và có khi cũng chẳng cần lý do gì cả. Có tuần chúng tôi được mời đến 2-3 lần, và có những ngày chỉ ăn mỗi buổi sáng ở giáo xứ còn trưa và tối thì ăn ở gia đình giáo dân. Đi nhà nào người ta cũng dọn mâm cao cỗ đầy. Điều đó cho thấy con người nơi đây hiếu khách lắm. Con người nơi đây cũng chịu khó làm ăn, và về tương giao họ rất quý trọng và yêu mến các cha, các thầy.

Chỉ tiếc là có nhiều gia đình chưa thuận vợ thuận chồng. Vì là dân nhập cư nên nhiều gia đình chưa chuẩn hôn phối, con cái có đứa rửa tội, đứa không. Nhiều gia đình bố mẹ ly dị, con cái sống với ông bà khiến cho việc thực hành sống đạo, tham dự các sinh hoạt nhà thờ, bí tích gặp nhiều khó khăn, ngăn trở. Ước mong sao trong những thách thức và khó khăn như vậy, Thiên Chúa dùng nắm men làm cả khối bột dậy men, để rồi một ngày nào đó tất cả đều đồng tâm nhất trí với nhau trong việc thờ phượng Thiên Chúa.

Kết thúc việc mục vụ hè, Vĩnh Tuy tạm biệt tôi với cơn mưa nhẹ. Những giọt mưa chảy xuống trên khung cửa kính, chiếc xe đưa tôi xa dần. Ai cũng phải làm quen với việc chia tay, đến và đi mà. Nhưng giờ đây, trong lịch sử của cuộc đời tôi có hình ảnh và kỷ niệm của vùng đất đó, con người đó. Mà lại là những hình ảnh và kỷ niệm rất đẹp thì thật đáng trân trọng để lưu giữ và nhớ đến biết bao. Tôi thầm cảm ơn Chúa đã nhậm lời tôi khi được đến mục vụ trên mảnh đất này. Để rồi nơi cha xứ, tôi cảm nhận được sự gần gũi, giản dị và kiên nhẫn với giáo dân; nơi cha phó, tôi thấy được sự dấn thân, nhiệt huyết trong các công việc mục vụ; và nơi anh chị em tín hữu, tôi thấy được sự chân thành và nỗ lực vươn lên nơi vùng sơn cước này.

Bài trướcGx. An Mỹ – ký ức đẹp của hành trình ơn gọi
Bài tiếp theoHướng dẫn những phút cầu nguyện cùng thánh Arnold Janssen