«SỰ THẬT SẼ GIẢI PHÓNG ANH EM» (Ga 8,32)

0
6

Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Du Trí, SVD

Hầu như ai trong chúng ta cũng muốn dùng hàng thật, ăn thức ăn sạch, muốn sống với những người trung thực, ngay chính. Thế nhưng thực tế lại không được như vậy. Điều đang xảy ra với chúng ta là thực phẩm bẩn, độc hại tràn lan khắp nơi, hàng kém chất lượng khoác nhãn mác hàng tốt, đến cả con người cũng tìm cách lừa gạt nhau tới tận “đồng xu cuối cùng”. Có lẽ vì thế mà chưa bao giờ cái thật, của thật, lời thật, người thật lòng, lại được khao khát đến thế.

Giữa cơn khát ấy, trên các mạng xã hội, nổi bật là Facebook, nhiều người đứng ra nhân danh sự thật, tự nhận là người bảo vệ sự thật, rồi “tung hoành ngang dọc”. “Tôi chỉ nói sự thật thôi mà” là câu xuất hiện dày đặc ngay dưới những bài bóc phốt, những màn vạch tội ai đó. Không ít người còn trích lời Chúa Giêsu làm khiên che: “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32).

Nhưng thứ sự thật mà nhiều người tin rằng mình đang nắm giữ và đấu tranh bảo vệ ấy, có phải là sự thật Chúa Giêsu muốn nói không? Sự thật nào mới thật sự giải phóng chúng ta? Giải phóng cách nào? Ta cùng trở lại khung cảnh nơi lời của Chúa Giêsu được nói ra để hiểu đúng lời Người.

  1. 1. Từ một vụ “bóc phốt” và ném đá hụt

Ít ai để ý rằng trong bản văn Tin Mừng, câu nói được viện dẫn nhiều về sự thật lại đứng cùng một chương với vụ “bóc phốt” nổi tiếng nhất Kinh Thánh.

Mở đầu chương 8 của Tin Mừng Gioan, vào lúc tảng sáng, khi Chúa Giêsu đang giảng dạy trong đền thờ, các kinh sư và người Pharisêu điệu đến một phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình, để chị đứng ở giữa (Ga 8,1-11). Xét về sự kiện, họ hoàn toàn đúng. Chị ấy ngoại tình thật, luật Môsê cũng truyền ném đá hạng người phạm tội như chị. Nắm trong tay sự thật trăm phần trăm, những người tố cáo đã dùng sự thật ấy để giết một con người, tiện thể gài bẫy một Người khác.

Trong hoàn cảnh đó, Chúa Giêsu không cãi rằng chị vô tội. Người cúi xuống viết trên đất, rồi trước sự gặng hỏi sốt ruột của những người “nắm giữ sự thật” ấy, Người ngẩng lên bảo: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Câu ấy của Người chạm đúng chỗ “chí mạng” của họ. Nói về sự thật, những người tố cáo hôm ấy mới nắm được một nửa, đó là sự thật về tội người khác; còn nửa kia, tức sự thật về tội chính mình, họ chưa hề nhìn tới. Nghe thế, đám đông lặng lẽ rút lui, bắt đầu từ những người lớn tuổi.

Rồi cũng trong chương ấy, Chúa Giêsu nói với những người Do-thái đã tin Người: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8,31-32). Ta để ý, lời hứa về sự thật được ngỏ với những người đã tin, nghĩa là một người đã tin rồi vẫn có thể chưa được tự do. Quả vậy, vừa nghe thế, cử toạ đã tự ái ngay: “Chúng tôi là dòng dõi ông Ápraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ” (Ga 8,33), mà quên rằng dân mình khi ấy đang nằm dưới ách đô hộ của Rôma. Dĩ nhiên, Chúa Giêsu không sa vào chuyện chính trị. Người nhắm tới thứ xiềng xích sâu hơn mọi ách đô hộ là chính tội lỗi. “Hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội” (Ga 8,34), rồi Người hứa: “Nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Ga 8,36).

Đặt hai cảnh ấy cạnh nhau, ta thấy được bài học kép của chương 8. Mở đầu chương là những người dùng sự thật hòng giết một con người và gài bẫy một Người khác, nhưng giữa chương là lời hứa về sự thật nhằm cứu sống con người. Cùng một chữ “sự thật”, mà ý nghĩa cách nhau một trời một vực.

  1. Sự thật của Chúa Giêsu không phải là sự thật về thông tin đúng

Vậy, tự bản chất, sự thật Chúa Giêsu nói đến là gì? Trong Tin Mừng Gioan, chữ Hy-lạp alêtheia (sự thật) không trỏ những “sự kiện đúng” kiểu hồ sơ hay tin tức, mà trỏ mặc khải, nghĩa là việc Thiên Chúa vén mở cho con người biết Ngài là ai và con người là ai. Thánh Gioan viết ngay từ lời tựa Tin Mừng, “ân sủng và sự thật thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có” (Ga 1,17). Chính Chúa Giêsu cũng tuyên bố: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Sách Giáo Lý xác nhận rằng, nơi Chúa Giêsu Kitô, sự thật của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn, nghĩa là chính Người là Sự Thật (GLHTCG 2466). Sự thật Chúa hứa, xét cho cùng, là một Ngôi Vị, một Đấng sống động để gặp gỡ và gắn bó, chứ không phải một câu để học thuộc rồi đem ra cãi nhau.

Động từ “biết” trong lời hứa ấy của Chúa cũng mang chiều sâu tương tự. Kinh Thánh không dùng chữ “biết” cho việc nắm thông tin trong đầu, mà cho sự gắn bó bằng cả cuộc sống, đến độ dám nói vợ chồng “biết” nhau. “Biết sự thật”, vì vậy, là sống thân tình với một Đấng cho đến khi ánh sáng của Đấng ấy thấm vào mình. Ta để ý là lời hứa giải phóng nhờ sự thật còn có một vế đi trước mà người ta hay bỏ sót khi trích dẫn: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi.” “Ở lại” là động từ ruột của thánh Gioan, thấm thía nhất trong hình ảnh cành nho ở lại trong thân nho (x. Ga 15,4). Cho nên sự thật giải phóng là hoa trái của việc ở lại lâu dài trong Lời, như mưa thấm đất, còn ai chỉ ghé qua Lời Chúa để lấy “vũ khí” tranh luận thì chưa hề “ở lại” với Lời.

  1. Sự thật giải phóng ai trước?

Đây là câu hỏi mấu chốt để tránh hiểu lầm. Chúa Giêsu nói: “Các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông”. Lời này khác hẳn với cách nói: Anh em sẽ biết sự thật về người khác, và được quyền phán quyết ai đúng ai sai. Cuộc giải phóng Chúa Giêsu hứa là cuộc giải phóng nội tâm của chính đương sự, của người đang nghe, đang tin, đang tập ở lại trong Lời, chứ không phải “giấy phép” đi xử lý chuyện đúng sai của thiên hạ. Hơn nữa, đó là ơn được nhận chứ không phải chiến tích tự mình giành lấy, bởi vì chính người Con thực hiện công trình giải phóng (Ga 8,36), nên tự do ấy là quà tặng khiến ta biết ơn, chứ không phải bằng khen khiến ta tự đắc. Ngày nào ta còn dùng câu Ga 8,32 chủ yếu để phán xét đúng sai của người khác, ngày ấy ta còn đứng ngoài lời hứa của Chúa.

Vậy sự thật giải phóng ta khỏi cái gì? Trước hết là khỏi tội (Ga 8,34), rồi khỏi những sợi xiềng nối dài của nó, tỷ như thói dối mình, nhu cầu tự biện minh, nỗi sợ bị lộ con người thật, và nguy hiểm nhất là ảo tưởng mình vô tội. Đây là thứ ảo tưởng khiến Chúa Giêsu phải cứng rắn cảnh tỉnh ở cuối trình thuật người mù từ thuở mới sinh, nơi anh mù được thấy, cả bằng đôi mắt lẫn bằng đức tin, còn những người tự tin mình sáng lại hoá ra mù. Người nói: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng ‘chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn” (Ga 9,41). Kẻ nhận mình mù thì còn chữa được, còn kẻ đinh ninh mình “nắm giữ sự thật” thì tự đóng cửa với Đấng chữa lành.

Dưới ánh sáng ấy, ta thấy nơi pháp trường ném đá hôm ấy không phải một mà hai kiểu nô lệ. Chị phụ nữ nô lệ cho tội mình, điều đó dễ thấy. Nhưng đám đông cầm đá cũng đang bị tội trói mà không biết. Họ bị trói bởi kiêu ngạo, bởi nhu cầu được thấy mình đúng, bởi cơn hả hê khi có kẻ ngã xuống thấp hơn mình. Thứ nô lệ ấy có phiên bản thời nay mà ta dễ bắt gặp. Thật thế, có những người nghiện thả nút “phẫn nộ”, nghiện cảm giác công chính, nghiện lượt thích của đám đông cùng ném đá, rồi thấy mình cao đẹp vì đang “bảo vệ sự thật”. Thật may, Chúa Giêsu đến giải phóng cả hai kiểu nô lệ. Người giải phóng chị phụ nữ khỏi tội và án chết, giải phóng những người cầm đá khỏi gông cùm của chính họ. Người đặt họ vào tình thế phải nhìn lại sự thật về mình, để từng viên đá rơi xuống, và những bàn tay tự trói được cởi ra.

Thánh Giacôbê gói cách hoạt động của sự thật vào một hình ảnh rất đắt giá khi ví Lời Chúa như tấm gương soi (Gc 1,23-24). Gương được sinh ra để ta soi mặt mình. Bi kịch chỉ bắt đầu khi ta biến gương thành ống nhòm để “soi” người khác, để rồi đọc trang Kinh Thánh nào lòng cũng chỉ thấy tội của thiên hạ. Chúa biết tật ấy của ta, nên Người đặt một thứ tự hành động rõ ràng là ta phải “lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em” (Mt 7,5). Người không cấm ta giúp anh em lấy cái rác. Người chỉ muốn ta làm đúng thứ tự, cái xà của mình trước, cái rác của anh em sau. Và lối phóng đại đầy hài hước của Chúa trở thành một lời cảnh tỉnh đầy ý nghĩa, đó là cái nằm trong mắt mình bao giờ cũng là cái xà, to gấp bội cái rác nơi mắt anh em.

Hội Thánh đúc kết kinh nghiệm ấy trong lời dạy: “Càng làm điều thiện, con người càng trở nên tự do”, và không có tự do đích thực ngoài việc phục vụ điều thiện và điều công chính (GLHTCG 1733). Nói cách khác, tự do không phải là muốn làm gì thì làm, mà là được giải thoát để có sức làm điều tốt. Còn thánh Gioan Phaolô II thì lấy chính câu Ga 8,32 làm đề mục cho một phần thông điệp Veritatis Splendor (Ánh rạng ngời chân lý, 1993). Ngài viết: tự do lệ thuộc nền tảng vào chân lý, khi lìa xa sự thật, tự do thoái hoá thành tuỳ tiện (Veritatis Splendor số 34).

Có thể gói mạch của mục này như sau: một sự thật chưa từng đi qua trái tim ta, chưa làm ta đau, chưa làm ta sám hối, thì khi ra khỏi miệng ta, nó khó lòng còn là sự thật của Tin Mừng. Người được giải phóng đầu tiên phải là ta; rồi từ đó, ta mới có thể góp phần thật sự vào lẽ phải và sự công bằng của cộng đoàn.

  1. Sự thật và đức ái

Đến đây hẳn có người đặt vấn đề: chẳng lẽ im lặng trước cái sai, thương yêu kiểu ba phải? Thưa không. Hội Thánh dạy cách khôn ngoan rằng sự thật và đức ái (tình yêu theo nghĩa Kitô giáo, muốn và làm điều tốt thật cho người khác) là một đôi cánh, chặt cánh nào thì cánh còn lại cũng hết khả năng bay. Thánh Phaolô gói gém lại thành “sống theo sự thật và trong tình bác ái” (Ep 4,15). Nếu đọc sát hơn sẽ là: “làm sự thật trong tình yêu”. Sự thật không chỉ để nói mà còn để làm, và chỉ làm được bên trong tình yêu. Trong bài ca đức mến, ngài còn để lại một phép thử tinh vi như sau: đức mến không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật (1 Cr 13,6). Ai thấy lòng mình reo lên khi phát hiện tội người khác thì người đó nên biết rằng khi đó động lực họ lên tiếng nhân danh sự thật không phải là lòng yêu sự thật.

Đức Bênêđictô XVI dành hẳn một văn kiện cho tương quan này, Thông điệp Caritas in Veritate (Bác ái trong Chân lý, 2009). Không có sự thật, ngài viết, đức ái thoái hoá thành thứ tình cảm uỷ mị, tình yêu chỉ còn là cái vỏ rỗng, ai muốn nhét gì vào cũng được (Caritas in Veritate số 3). Chiều ngược lại cũng đúng. Sự thật phải được tìm kiếm, đón nhận và nói ra bên trong dòng chảy của đức ái (Caritas in Veritate số 2). Nói cách khác, sự thật thiếu đức ái thành cây gậy, đức ái thiếu sự thật thành viên kẹo bọc thuốc ngủ, và cả hai đều không cứu được ai.

Công đồng Vaticanô II vạch hẳn một lằn ranh quý giá trong hiến chế Gaudium et Spes (Vui mừng và Hy vọng) số 28: phải phân biệt giữa sai lầm (điều luôn luôn phải bác bỏ), và người sai lầm (kẻ không bao giờ mất phẩm giá của một nhân vị). Nói đơn sơ hơn, ghét cái sai là bổn phận, ghét người sai là tội. Cũng đoạn ấy, Công đồng nhắc rằng chính tình yêu thúc bách môn đệ Chúa Kitô nói lên chân lý cứu độ cho mọi người. Im lặng ba phải, mặc kệ anh em trượt dài, không phải là bác ái. Đó chỉ là sự bỏ rơi được sơn lớp sơn lòng tôn trọng.

Nhưng phải nói chân lý theo kiểu nào? Tuyên ngôn Dignitatis Humanae (Phẩm giá con người) số 1 trả lời  rằng: chân lý không áp đặt mình bằng cách nào khác ngoài sức mạnh của chính nó, đi vào tâm trí con người vừa êm ái vừa mạnh mẽ. Điều lạ lùng là, chính Thiên Chúa, Đấng nắm trọn sự thật, còn không cưỡng bức ai phải nhận sự thật; vậy kẻ nhân danh sự thật để bức ép, hạ nhục, đấu tố người khác đang làm cái điều mà chính Thiên Chúa không làm.

Thánh Augustinô nhận định, “Không gì chiến thắng được ngoài sự thật; và chiến thắng của sự thật chính là đức ái” (Bài giảng 358,1). Sự thật “thắng” không phải lúc đối phương cứng họng giữa đám đông, mà lúc một con người được yêu thương đủ để dám nhìn nhận sự thật về mình mà không sợ bị tiêu diệt.

  1. Vậy làm sao để nói sự thật mà không phản lại sự thật

Giáo huấn của Kinh Thánh và Hội Thánh giúp ta quy về năm phép thử cụ thể, dùng trước khi đăng một status, chuyển tiếp một bản tin, hay góp ý thẳng với một người.

1) “Soi gương trước khi cầm loa”

Đó là thứ tự Chúa đặt trong Mt 7,5, theo đó, cái xà của mình trước, cái rác của anh em sau. Câu suy xét đơn giản là điều tôi sắp lên án nơi người khác, tôi đã dám để Lời Chúa lên án nó nơi tôi chưa?

2) Coi chừng ba cái bẫy quanh danh dự người khác

Sách Giáo Lý gọi tên chúng (GLHTCG 2477) là i) xét đoán hồ đồ, tức khi ta thầm cho là thật một lỗi của người khác khi chưa đủ căn cứ; ii) nói hành nói xấu, tức tiết lộ lỗi có thật của người khác cho những người không cần biết, mà không có lý do chính đáng; và iii) vu khống, tức bịa điều sai để hại thanh danh người khác. Điều gây ngạc nhiên là cái bẫy thứ hai khi một việc làm vẫn là tội dù mọi lời đều đúng sự thật. Câu “tôi chỉ nói sự thật thôi mà”, trong nhiều trường hợp, chính là lời tự thú của người vừa phạm nó. Sách Giáo Lý còn dẫn thánh Inhaxiô khuyên ta sẵn sàng hiểu tốt cho lời người khác hơn là vội lên án (GLHTCG 2478). Trên mạng, điều ấy nghĩa là trước một tin giật gân về ai đó, phản xạ Kitô giáo không phải share, mà là bình tâm suy xét và cầu nguyện, chỉ lên tiếng cách cẩn trọng vì đức ái.

3) Không phải sự thật nào cũng phải nói ra, cho mọi người, vào mọi lúc

Giáo Lý dạy minh nhiên rằng quyền truyền đạt sự thật không phải là vô điều kiện. Khi truyền đạt điều gì, ta phải lo sao để đức ái hướng dẫn mọi lời nói, phải hướng tới thiện ích của người khác. Sự tôn trọng đời tư và công ích là lý do đủ để thinh lặng, và không ai buộc phải tỏ lộ sự thật cho kẻ không có quyền biết (GLHTCG 2488-2489). Chuyện lục đục của gia đình hàng xóm có thể đúng trăm phần trăm,  nhưng cả xóm không có quyền được biết chuyện ấy.

4) Sửa lỗi như người anh em, đừng như quan toà

Chúa dạy, “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi” (Mt 18,15). Góp ý kín đáo trước đã, mục đích là để “chinh phục được người anh em”, chứ không phải thắng một ván cãi. Thánh Tôma Aquinô xếp việc sửa lỗi huynh đệ vào các hành vi của đức ái (Tổng luận Thần học II-II, câu hỏi 33): sửa lỗi là một cách yêu, nên đòi những điều kiện của tình yêu, bao gồm đúng người, đúng lúc, đúng cách, và đã cầu nguyện cho người ấy trước khi nói về người ấy.

5) Khi buộc phải lên tiếng công khai, ta nhắm vào sự dữ, đừng nhắm vào phẩm giá

Có lúc thinh lặng là đồng loã, nên ta phải tố giác bất công, bênh người yếu thế, cảnh báo cộng đồng trước kẻ lừa đảo, làm chứng cho đức tin. Nhưng ngay cả khi ấy, Lời Chúa vẫn dạy ta, “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng” (1 Pr 3,15-16). Cuối cùng, ta phải dám hỏi mình: tôi lên tiếng để cứu hay để diệt? Để phục vụ sự thật, hay để được đám đông vỗ tay?

  1. Đấng duy nhất có quyền ném đá đã không ném

Xin trở lại buổi sáng trong đền thờ Giêrusalem. Khi đám đông rút hết, thánh Augustinô nhận xét, chỉ còn lại hai misera et misericordia – người khốn khổ và Lòng Thương Xót (x. Chú giải Tin Mừng Gioan của thánh Augustinô 33,5). Đấng duy nhất sạch tội, duy nhất đủ điều kiện ném viên đá đầu tiên, lại là Người mở cho chị con đường sống: “Tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8,11). Câu của Chúa đủ sự thật và đủ tình thương để vừa tha lại vừa nâng đỡ chị trong chặng đường phía trước.

Con đường ấy của Chúa đi đến tận cùng trên thập giá, nơi Sự Thật bị đóng đinh vẫn thốt lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ” (Lc 23,34). Chân lý cứu thế gian không bằng cách đè bẹp ai, nhưng bằng cách chịu đâm thâu. Nhờ Thập giá vinh hiển, Chúa Kitô đem lại ơn cứu độ cho mọi người, “chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (GLHTCG 1741; Gl 5,1).

Bài trướcLỜI SỐNG (Thứ Hai, Tuần 16 TN)
Bài tiếp theoLỚP HỌC ĐÀN DÀNH CHO THIẾU NHI GIÁO HỌ THỊNH SƠN – GIÁO XỨ MỸ THANH