Chú Giải Tin Mừng CN Lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa (Lc 2,15-21)

0
133

TÌM THẤY – TÔN VINH VÀ TÁN TỤNG

Lm. Giuse Phạm Duy Thạch, SVD chú giải

Please wait while flipbook is loading. For more related info, FAQs and issues please refer to DearFlip WordPress Flipbook Plugin Help documentation.

Bản văn và dịch sát nghĩa (Lc 2,15-21)

Việt Hy Lạp
15 Khi các sứ giả đã rời khỏi họ mà về trời, các mục tử bắt đầu nói với nhau rằng:  “Chúng ta nên đi băng qua đến tận Bếtlehem và xem chuyện đã xảy ra, chuyện mà Chúa đã mặc khải cho chúng ta.

16 Họ [các mục tử] vội vã khởi hành và tìm thấy bà Maria và ông Giuse, cùng với Hài Nhi được đặt trong máng cỏ.

17 Sau khi thấy như vậy, họ tường thuật những điều đã được nói cho họ về đứa trẻ này.

18 Tất cả những người nghe đều kinh ngạc về những điều mà các mục tử nói với họ.

19 Còn bà Maria thì hằng gìn giữ những điều ấy, suy đi xét lại trong lòng.

20 Rồi, các mục tử trở về, tôn vinh và tán tụng Thiên Chúa về tất cả những điều họ đã nghe và thấy, như đã được nói cho họ.

21 Khi đã trọn tám ngày để cắt bì cho Người, Người được đặt tên là Giêsu, tên được sứ giả gọi trước khi Người được thụ thai trong lòng [mẹ].

15 Καὶ ἐγένετο ὡς ἀπῆλθον ἀπ᾽ αὐτῶν εἰς τὸν οὐρανὸν οἱ ἄγγελοι, οἱ ποιμένες ἐλάλουν πρὸς ἀλλήλους· διέλθωμεν δὴ ἕως Βηθλέεμ καὶ ἴδωμεν τὸ ῥῆμα τοῦτο τὸ γεγονὸς ὃ ὁ κύριος ἐγνώρισεν ἡμῖν.

16 καὶ ἦλθαν σπεύσαντες καὶ ἀνεῦραν τήν τε Μαριὰμ καὶ τὸν Ἰωσὴφ καὶ τὸ βρέφος κείμενον ἐν τῇ φάτνῃ·

17 ἰδόντες δὲ ἐγνώρισαν περὶ τοῦ ῥήματος τοῦ λαληθέντος αὐτοῖς περὶ τοῦ παιδίου τούτου.

18 καὶ πάντες οἱ ἀκούσαντες ἐθαύμασαν περὶ τῶν λαληθέντων ὑπὸ τῶν ποιμένων πρὸς αὐτούς·

19 ἡ δὲ Μαριὰμ πάντα συνετήρει τὰ ῥήματα ταῦτα συμβάλλουσα ἐν τῇ καρδίᾳ αὐτῆς.

20 καὶ ὑπέστρεψαν οἱ ποιμένες δοξάζοντες καὶ αἰνοῦντες τὸν θεὸν ἐπὶ πᾶσιν οἷς ἤκουσαν καὶ εἶδον καθὼς ἐλαλήθη πρὸς αὐτούς.

21 Καὶ ὅτε ἐπλήσθησαν ἡμέραι ὀκτὼ τοῦ περιτεμεῖν αὐτὸν καὶ ἐκλήθη τὸ ὄνομα αὐτοῦ Ἰησοῦς, τὸ κληθὲν ὑπὸ τοῦ ἀγγέλου πρὸ τοῦ συλλημφθῆναι αὐτὸν ἐν τῇ κοιλίᾳ. (Lk. 2:16-21 BGT)

 

Bối cảnh

Lc 2,15-21 nằm trong trình thuật Giáng Sinh và thời thơ ấu của Đức Giêsu (Lc 2,1-52). Trong bối cảnh trực tiếp, đoạn văn này là một phần của trình thuật Giáng Sinh. Nó là phân đoạn tiếp nối sau hai phân đoạn:  Đức Giêsu sinh ra tại Bếtlehem (2,1-7); Mặc khải cho nhóm mục tử đang canh giữ đàn vật ngoài đồng (2,8-14). Câu chuyện cắt bì và đặt tên (2,21) song song với câu chuyện cắt bì và đặt tên cho “người dọn đường”, Gioan Tẩy Giả (Lc 1,59-66). Tên gọi Giêsu là tên mà sứ giả Gabriel đã gọi khi truyền tin cho bà Maria (Lc 1,31). Hơn nữa, tên gọi Giêsu gắn liền với lời sứ giả nói cùng ông Giuse trong giấc mộng theo trình thuật của tác giả Mátthêu: “Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21; Cf. 1,25). Địa danh Bếtlehem nối kết (2,15) là địa danh được nhắc đến hai lần như là thành của vua David trong hai phân đoạn trước đó (2,4.11). Các nhân vật Giuse, Maria và Hài Nhi Giêsu xuất hiện trong phân đoạn đầu và phân đoạn này, riêng Hài Nhi Giêsu xuất hiện trong phân đoạn thứ hai nữa (một trẻ sơ sinh được đặt trong máng cỏ). Trong bối cảnh rộng hơn, hành động “gìn giữ và suy đi xét lại trong lòng” của bà Maria ở đây sẽ được lặp lại trong biến cố Đức Giêsu ở lại trong đền thờ khi Người lên mười hai tuổi (Lc 2,41-52).

Cấu trúc

Đến Bếtlehem (15): Đi băng qua đến tận Bếtlehem và xem chuyện đã xảy ra

Thấy (16): Tìm thấy bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi

Tường thuật (17): Những điều đã được nói cho họ về đứa trẻ này

Phản ứng:

Người ta (18) Tất cả những người nghe đều kinh ngạc

Bà Maria (19): Hằng gìn giữ những điều ấy, suy đi xét lại trong lòng.

Trở về (20): Tôn vinh và tán tụng Thiên Chúa

Cắt bì và đặt tên (21): Tên sứ giả đã gọi: Giêsu

 

Một vài điểm chú giải[1]

  1. Đi băng qua đến tận Bếtlehem”: Sau khi được sứ giả của Chúa loan báo tin vui lớn, cũng là tin vui cho toàn dân, những người chăn chiên rời bỏ đàn vật của mình để lên đường đi đến “thành của vua Đavid” để xem sự việc đã xảy ra. Động từ “đi băng qua” (διά) là một động từ ghép bao gồm động từ “đến” (ἔρχομαι) và một tiền tố là giới từ “xuyên qua”. Giới từ “cho đến khi, cho đến tận” được đặt trước thành Bếtlehem (ἕως Βηθλέεμ καὶ) nhấn mạnh đích đến của cuộc hành trình.[2] Theo địa danh khảo cổ học ngày nay, cánh đồng nơi các mục tử ở cách xa Bếtlehem khoảng hơn kém 3 km đường bộ và phải mất khoảng bốn mươi phút đi bộ. Với địa thể hiểm trở của núi đồi và cây cối, cùng với thời gian mà họ khởi hành là ban đêm, độc giả có thể đoán biết được hành trình này khó khăn như thế nào. Có lẽ, họ đã phải hối hả “băng qua” núi đồi, cây cối, cùng những cản trở khác để đến gặp Hài Nhi Giêsu.[3] Hành trình “băng qua” (2,15) này được tiếp nối và mở ra bằng một hành trình “trở về” trong tư thế “vừa đi vừa tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 2,21). Sự khởi hành của các mục tử ngay sau khi nghe thông điệp từ các thiên sứ tương tự như sự “vội vã lên đường” đến nhà ông Dacaria, của bà Maria ngay sau khi nghe lời sứ giả Gabriel truyền tin (Lc 1,38-40). Đây đều là những đáp trả tích cực đối lại với sự đáp trả của ông Dacaria (Lc 1,18.20) có phần hơi tiêu cực – không tin vào lời sứ giả của Chúa.[4]
  2. “Tìm thấy bà Maria, ông Giuse và trẻ sơ sinh được đặt trong máng cỏ”: Các sứ giả đã bật mí với các mục tử về dấu hiệu để nhận ra “Đấng Cứu Độ, là đấng Kitô, Chúa” mới sinh trong thành của David là “các anh sẽ tìm thấy một trẻ sơ sinh được bọc tã, và được đặt trong máng cỏ” (2,12). Các hành động “bọc tã và đặt trong máng cỏ” là của bà Maria (2,7). Mục đích các mục tử vội vã đi đến Bếtlêhem là để “xem sự việc đã xảy ra như Chúa đã tỏ cho chúng ta biết”
  3. “Họ tỏ ra sự việc (lời)” (ἐγνώρισαν): “Sự việc” mà họ muốn xem được mô tả là “sự việc đã xảy ra, sự việc mà Chúa tỏ ra cho chúng ta biết” (τὸ ῥῆμα τοῦτο τὸ γεγονὸς ὃ ὁ κύριος ἐγνώρισεν ἡμῖν: 2,15) tương ứng với “sự việc họ tỏ bày”, “sự việc đã được nói cho họ về đứa bé này” (ἐγνώρισαν περὶ τοῦ ῥήματος τοῦ λαληθέντος αὐτοῖς περὶ τοῦ παιδίου τούτου: 2,17). Động từ “tỏ bảy” được dùng cho cả Chúa và nhóm mục tử. Tác giả cho thấy rằng có một sự liên kết trong sự tỏ bày của Chúa và của các mục tử: Chúa tỏ cho các mục tự biết mầu nhiệm Giáng Sinh, rồi các mục tử tiếp tục tỏ bày cho bà Maria, ông Giuse và những người khác.[5] Toàn bộ tiến trình có thể diễn cách khác là: Các mục tử lắng nghe Tin Vui từ các sứ giả loan báo, vội vã đến viếng thăm và kiểm chứng, rồi loan báo cho người khác. Đó là bản chất và sức mạnh của một Tin Vui đích thực, một tin vui có sức manh công phá cõi lòng người nghe, khiến họ phải nói ra, loan tin chứ không chỉ giữ cho riêng mình. Nội dung của động từ “tỏ bày” là sự việc/ lời (τὸ ῥῆμα). “Sự việc” chính là “sự Giáng Sinh của Đấng Cứu Độ, Đấng Kitô, Chúa” được sinh ra trong thành của David. Fitzmyer cho rằng nhưng những người chăn chiên này thuật lại cho bà Maria và ông Giuse nghe toàn bộ cuộc gặp gỡ với các sứ giả Thiên Chúa, rồi còn kể cho dân thành Bếtlehem nữa.[6] Các mục tử không chỉ tìm thấy “trẻ thơ”, mà còn tìm thấy bà Maria và ông Giuse.[7] Những nhân vật mà họ nhìn thấy trước là bà Maria và ông Giuse chứ không phải là trẻ thơ Giêsu. Có thể nói rằng sự xuất hiện của các mục tử đã làm thay đổi bầu khí của cảnh Giáng Sinh. Cho đến trước khi các mục tử viếng thăm và “tỏ bày”, bà Maria và ông Giuse cùng với Hài Nhi vẫn lặng lẽ, nơi một góc chuồng chiên nào đó, không ai biết đến. Với sự hiện diện của các mục tử không khí cảnh Giáng Sinh rộn ràng, vui tươi hơn, và sau khi họ kể lại mặc khải ở cánh đồng, căn tính của trẻ Giêsu dần hé lộ và niềm vui, sự kinh ngạc bắt đầu. Cứ như thế tin vui được nhân rộng và đã đến cùng cõi đất ngày hôm nay. Nếu như cảnh Giáng Sinh của tác giả Mátthêu trở nên sâu lắng, huy hoàng, với sự thăm viếng, bái thờ, và dâng lễ phẩm quý của các nhà chiêm tinh từ Phương Đông, thì cảnh Giáng Sinh của tác giả Luca, rộn ràng, náo động bởi lời kể chuyện của các mục tử đơn sơ giản dị.
  4. “Tất cả những người nghe đều kinh ngạc” (πάντες οἱ ἀκούσαντες ἐθαύμασαν): Sự ngạc nhiên của thính giả ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, họ đương nhiên là ngạc nhiên vì câu chuyện các thiên sứ hiện ra với các mục tử. Rồi ngạc nhiên vì tất cả những gì thiên sứ nói với các mục tử đều đúng y sự thật. Kế đến, họ có thể rất đỗi ngạc nhiên vì Đấng Mêsiah, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ mà họ mong chờ bấy lâu nay lại xuất hiện trong bộ dạng một Hài Nhi yếu ớt. Và ngạc nhiên hơn nữa vì bối cảnh Người sinh ra thật không thể tưởng tượng được. Người ta biết Người sinh ra tại Bếtlehem theo như lời ngôn sứ Malakhi, nhưng ai ngờ Người lại sinh ra trong chuồng bò lừa như thế. Sự “kinh ngạc” là một đáp trả được mong đợi trước một sự kiện siêu nhiên (1,21.63-66; Cf. 2,33). Sự “kinh ngạc” này còn được tiếp diễn trong các trình thuật về sứ vụ công khai của Đức Giêsu (Lc 4,22;8,25; 9,43; 11,14; 24,12).[8]
  5. “Hằng giữ gìn và ngẫm suy tất cả các sự việc” (πάντα συνετήρει τὰ ῥήματα ταῦτα συμβάλλουσα): Khác với thái độ “kinh ngạc” của đám động vô danh (Lc 2,18), bà Maria, “bảo tồn và suy gẫm về tất cả những việc ấy”. Động từ “συνετήρει” dịch đơn giản có nghĩa là gìn giữ. Bản dịch Việt Ngữ là “hằng ghi nhớ” (CGKPV). Một số tác giả Anh Ngữ hiểu là “gìn giữ như kho tàng” (treasured up ESV, RSV), bản dịch Ý Ngữ hiểu là “bảo vệ” (custodiva, CEI). Động từ “hằng ghi nhớ”, được chia ở thì vị hoàn (imperfect), nhấn mạnh sắc thái liên tục, kéo dài, chưa chấm dứt của hành động.[9] Động từ này kết hợp với động từ “συμβάλλουσα” (suy đi nghĩ lại, gẫm suy, suy xét) cùng với cụm trạng ngữ chỉ nơi chốn “trong lòng của cô ấy” (ἐν τῇ καρδίᾳ αὐτῆς) diễn tả một hành động có sự trân trọng cao nhất đối với những “sự việc này”. Đức Maria “gìn giữ như kho tàng” rồi còn “suy đi nghĩ lại” về điều ấy “trong tim” mình. Điều mà Đức Maria “gìn giữ như kho tàng” trong tiếng Hy Lạp là “τὰ ῥήματα”. Danh từ này có hai nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất là “lời nói” (saying). Nghĩa thứ hai là “những sự việc”. τὰ ῥήματα (số nhiều) được tác giả Luca sử dụng 5 lần, trong đó có một lần Luca sử dụng theo nghĩa là những lời nói (Lc 7,1). Bốn lần còn lại danh từ này đều được sử dụng theo nghĩa là “những sự việc”. Tất cả những sự việc mà Luca muốn nói đến đều nhiệm mầu và liên quan đến công trình cứu độ. Thứ nhất là “những sự việc” liên quan đến việc thụ thai, sinh hạ và đặt tên cho Gioan Tẩy Giả. “Những sự việc này được thảo luận trong toàn cõi Giuđê” (Lc 1,65). Hai chuỗi sự việc tiếp theo đều được Đức Maria “gìn giữ như bảo tàng” trong lòng mình. Đó là “những sự việc liên quan đến việc hạ sinh Đức Giêsu cùng với sự viếng thăm của nhóm mục tử và câu chuyện kể của họ” (Lc 2,19). Tiếp theo đó là “những sự việc” Đức Giêsu ở lại trong đền thờ, ngồi giữa các bậc thầy, vừa nghe vừa đặt câu hỏi” (Lc 2,51). Và cuối cùng là “những sự việc” mà những người phụ nữ kể với nhóm Mười Một về Đức Giêsu Phục Sinh, nhưng họ không tin các bà (Lc 24,11). Phản ứng của Đức Maria, với một thái độ trân trọng và để tâm suy ngắm tất cả những mầu nhiệm của cuộc đời Đức Giêsu có thể được xem như là đỉnh cao của trình thuật Giáng Sinh này. Nó cũng biểu lộ đặc tính nổi bật của Đức Maria trong tương quan với Chúa và công trình cứu độ của Người. Đức Maria phải nói là “đương kim vô địch” là “kỷ lục gia” trong việc trân quý và gẫm suy về mầu nhiệm cứu độ.
  6. “Trở về, vừa đi vừa tôn vinh và tán dương Thiên Chúa” (ὑπέστρεψαν οἱ ποιμένες δοξάζοντες καὶ αἰνοῦντες τὸν θεὸν): Đó là biểu hiện của những người gặp gỡ Chúa đích thực. Họ gặp gỡ Chúa, cảm nghiệm được Chúa hiện diện trong cuộc đời họ. Động từ “đoxazo” mà nhóm mục tử sử dụng có nguồn gốc từ danh từ “đoxa” được sử dụng ít nhất hai lần trước đó. “Vinh quang (đoxa) Chúa chiếu tỏa trên những người chăn chiên này” (Lc 2, 9). Rồi đoàn cơ binh thiên thần ca tụng: “Vinh danh (đoxa) Chúa trên các tầng trời” (Lc 2, 14). Kết thúc trình thuật này các mục tử trở về vừa đi vừa tôn vinh (đoxazo) và ca ngợi Chúa. Như vậy, có thể thấy một tiến trình cảm nghiệm vinh quang Chúa của các mục tử. Họ thấy ánh quang chiếu tỏa, rồi họ nghe các thiên sứ ca ngợi vinh quang Chúa. Rồi, họ nhìn thấy vinh quang Chúa nơi chính Thánh Gia, mà Hài Nhi Giêsu là trung tâm. Bước cuối cùng, chính họ cất lời ca tụng vinh quang Chúa. Theo J. Fitzmyer, phản ứng của những mục tử là âm vang của bài ca của cơ binh thiên thần trước đó (Lc 2,13-14).[10] Các mục tử đã được nghe tin vui lớn từ các sứ giả, nhưng giờ đây, sau khi mắt thấy, họ mới có thể chung vui với với các sứ giả của Chúa, cảm nghiệm được niềm vui cách trọn vẹn.[11]
  7. Cắt bì: Truyền thống truy nguồn lại đến giao ước của Thiên Chúa với ông Ápraham. Quy định về luật cắt bì rất rõ ràng. Đối tượng: Tất cả các bé trai, con cháu Israel hay là các bé được mua từ người nước ngoài. Thời gian: Tám ngày tuổi. Nơi cắt bì: Phần bao quy đầu phía trước. Và hình phạt dành cho người không cắt bì rất nặng: Bị loại ra khỏi dân (nghĩa đen là bị cắt đứt khỏi dân). Cả ông Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu đều chịu cắt bì khi được tám ngày tuổi (Lc 1,59; 2,21). Luca là tác giả Nhất Lãm duy nhất nhắc đến luật cắt bì cả trong sách Tin Mừng và sách Công Vụ. Khi ông Stêphanô giảng cho Hội Đồng Do Thái, ông đã nhắc lại phép cắt bì như là một dấu chỉ của Giao Ước và ông cũng nhấn mạnh đến truyền thống cắt bì của các tổ phụ: “Khi sinh ông Ixaác, ông (Ápraham) cắt bì cho cậu vào ngày thứ tám; Rồi ông Isaác cắt bì cho ông Giacóp, rồi, ông Giacóp cắt bì cho mười hai tổ phụ” (Cv 7,8). Quả thực, cắt bì là một dấu hiệu để chứng thực Đức Giêsu thuộc về dân giao ước, không bị cắt đứt khỏi dân và cũng để gợi nhớ đến Giao Ước của Chúa với tổ phụ Ápraham. Trong bài ca “Chúc Tụng” (Beneditus) tư tế Dacaria đã chúc tụng Thiên Chúa đã “thực thi lòng thương xót với cha ông chúng ta và nhớ lại gia ước thánh của Người; thực thi lời thề Người đã thề cùng ông Ápraham, cha ông chúng ta, trao ban cho chúng ta, để những người được cứu thoát khỏi tay kẻ thù, phụng thờ Người” (Lc 1,72-73). Đức Giêsu, người con của Giao Ước, sẽ lập Giao Ước Mới bằng chính máu Người, máu đổ ra vì các môn đệ (Lc 22,20; Mc 14,24: “Đổ ra vì nhiều người”; Mt 28,28: “Đổ ra cho muôn người được ơn tha tội”).

“Đây là giao ước của Ta, các ngươi phải giữ, giữa Ta và các ngươi, và con cháu ngươi sau ngươi: Mọi người nam trong các ngươi đều phải chịu cắt bì. Các ngươi phải chịu cắt bì xác thịt nơi da qui đầu của các ngươi; Đó sẽ là dấu chỉ giao ước giữa Ta và các ngươi. Khi sinh được tám ngày, mọi bé trai trong các ngươi đều phải chịu cắt bì, qua con cháu ngươi.  Kẻ sinh ra trong nhà và người được mua bằng tiền bạc chắc chắn phải chịu cắt bì. Như thế giao ước của Ta nơi thân xác các ngươi sẽ thành giao ước muôn đời. Bất cứ người nam nào không chịu cắt bì xác thịt nơi da qui đầu phải bị loại ra khỏi dân. Nó đã phá vỡ giao ước” (St 17,10-14).

  1. Đặt tên là Giêsu: Giêsu trong tiếng Hy Lạp là Iesous, có gốc trong tiếng Hípri là “Joshua” (יְהוֹשֻׁ֣עַ), chính là nhân vật thay thế ông Môsê (Gs 1,1) để dẫn dân vượt qua sông Giorđan, vào chiếm đất hứa. Danh xưng này có nghĩa là “Thiên Chúa cứu” hay “Thiên Chúa trợ giúp”. Sứ giả Gabriel khi truyền tin cho bà Maria đã cho biết rằng “bà sẽ thụ thai, sinh ra một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc 1,31). Thông điệp này khá giống với thông điệp sứ giả nói cùng ông Dacaria: “Bà Êlisabét, vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con và ông phải đặt tên cho con là Gioan” (Lc 1,13; Cf. 1,59-66). Trong trình thuật của tác giả Luca, người thuật chuyện cho biết tên gọi Giêsu chính là tên sứ giả đã gọi trước khi Người được thụ thai trong lòng (Lc 2,21). Trong trình thuật của tác giả Mátthêu, sứ giả đã buộc ông Giuse là phải đặt tên con trẻ là Giêsu, và sứ giả còn giải thích thêm lý do “vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Rõ ràng, tên gọi Giêsu là tên gọi có chủ ý, để diễn tả con người và sứ mạng của Đấng Kitô. Đặc biệt là danh xưng này nhắc nhớ đến nhân vật Giôsuê, tác nhân của Chúa trong cuộc dẫn đưa dân vào đất hứa.

 

Bình luận tổng quát

Cảnh Giáng Sinh của tác giả Mátthêu làm kinh động đến kinh thành Giêrusalem, đến vị vua đang trị vì, và tất cả các nhà lãnh đạo Do Thái, bởi vì trước đó, nó đã làm náo động đến tận Phương Đông, làm cho các nhà chiêm tinh (thông thái) phải tìm đến để bái thờ và dâng lễ vật cho vị vua mới sinh của người Do Thái (x. Mt 2,1-12). Ngược lại, cảnh Giáng Sinh của tác giả Luca chỉ làm náo động đến vùng ven thành Bếtlehem. Nơi cánh đồng mục tử, các sứ giả của Chúa đã làm cho các mục tử phải giật mình với một tin vui trọng đại: Một Đấng Cứu Độ, Đấng Kitô, Chúa, đã sinh ra trong thành của David. Tin vui ấy được tiếp nối bằng cảnh tượng vinh quang hùng vĩ, khi đoàn thiên sứ cùng hát mừng tôn vinh Thiên Chúa: “Vinh quang Thiên Chúa trên trời; bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Sau khi nghe và thấy tất cả những “sự việc” ấy, họ đã gieo bước hành trình, ra đi một cách hối hả, đến Bếtlehem để xem “sự việc đã xảy ra” như Chúa đã tỏ bày cho họ. Hành trình đường bộ dài, đường đi gập ghềnh, vào ban đêm, hẳn là một hành trình không hề dễ dàng. Tuy vậy, họ đã vượt qua, “băng qua” tất cả để đến tận Bếtlehem. Nơi ấy, họ không những nhìn thấy “trẻ thơ Giêsu được đặt nằm trong máng” như sứ giả đã nói mà còn thấy cả bà Maria và ông Giuse. Khi đã “mục sở thị”, đã kiểm chứng tỏ tường, họ tiếp nối hành động tỏ bày của Thiên Chúa. Họ tỏ bày “điều đã được nói cho họ về trẻ thơ này”. Bầu khí kinh ngạc, bầu khí cảm nghiệm mầu nhiệm thần linh, bao trùm lấy tất cả những ai nghe các mục tử “tỏ bày”. Tất cả những người nghe trong bối cảnh hiện tại có thể là ông Giuse, bà Maria, một số cư dân thành Jêrusalem, và có thể mở rộng ra cho tất cả mọi người ở mọi nơi, qua mọi thời đại. Bởi lẽ, theo lời các sứ giả của Chúa đây là “tin vui cho toàn dân” (Lc 2,10). Thái độ và suy nghĩ của bà Maria được tách riêng ra khỏi nhóm người còn lại. Bà luôn “gìn giữ” và “gẫm suy hoài” những sự việc liên quan đến Đức Giêsu. Thái độ của bà Maria, gìn giữ và gẫm suy, bao gồm cả lòng trân trọng và phân vân. Có lẽ, bà không ngừng phân vân là tại sao Đức Giêsu được sứ giả Gabriel nói đến với địa vị thân phận cao sang (Con Đấng Tối Cao, thừa kế ngai vàng David, triều đại vô cùng vô tận), lại sinh ra trong cảnh khốn cùng đến như vậy. Câu chuyện của các vị mục tử đã hé mở ánh sáng vinh quang của trẻ thơ Giêsu, nhưng đến bao giờ thì vinh quang ấy mới được tỏ hiện? Thái độ và hành động của bà Maria, lại được tiếp tục trong biến cố Đức Giêsu chủ động ở lại trong Đền Thờ vào dịp lễ Vượt Qua, lúc Người lên mười hai tuổi (x.Lc 2,41-52). Hành động “gìn giữ” và “gẫm suy” của bà Maria cứ kéo dài mãi như thế cho đến dưới chân thập giá, khi bà chứng kiến cái chết đau thương của Đức Giêsu. Có lẽ, cho đến lúc ấy, bà mới hiểu được phần nào sứ mạng của Đức Giêsu, con mình, Đấng được mệnh danh là Đấng Cứu Độ, Đấng Mêsiah, con của Đấng Tối Cao, trị vì nhà Giacóp đến muôn đời. Đó là mầu nhiệm tự hạ và tự hủy hoàn toàn để mang lại ơn cứu độ cho nhân loại, trong đó có bà Maria. Hành trình tìm kiếm, và “tỏ bày”, của các mục tử được tiếp nối bằng hành trình trở về đầy linh thiêng, “vừa đi vừa tôn vinh và tán tụng Thiên Chúa vì tất cả những điều họ đã nghe và đã thấy, như đã được nói với họ”. Niềm vui, lòng tôn kính của họ, đã hòa vào niềm vui và lòng tôn kính của các thiên sứ trước mầu nhiệm tình yêu tự hạ mà Thiên Chúa đã dành cho dân ngoại. Đó là niềm vui của những người nghèo, quê mùa, lam lũ đón nhận Tin Mừng Chúa Giáng Sinh. Đó là Tin Vui của những người cảm nghiệm được hồng ân cứu độ. Sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu được hàm chứa trong tên gọi của Người: “Giêsu”, “Thiên Chúa Chúa cứu độ”. Người sẽ cứu độ nhân loại bằng chính máu của Người: “Chén này, là Giao Ước Mới trong máu Thầy được đổ ra vì anh em” (Lc 22,20).

Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

Chú thích:

[1] Xem J.Ph.D. Thạch, “Đức Giêsu Giáng Sinh Tại Bêlem, chuyện tình cờ?”, “LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI ῥήματα ζωῆς αἰωνίου: ĐỨC GIÊSU GIÁNG SINH TẠI BẾTLEHEM, CHUYỆN TÌNH CỜ? Chú giải Tin Mừng Lễ Giáng Sinh (Lễ Vọng và Lễ Rạng Đông, Lc 2,1-20) (josephpham-horizon.blogspot.com)

[2] “As in Acts 9:38 and 11:19 (cf. 13:6), ἕως (“to”) emphasizes the destination” [F. Bovon – H.Koester, Luke 1. A commentary on the Gospel of Luke 1:1–9:50 (Hermeneia; Minneapolis 2002) 92].

[3] “In some cases the verb must be rendered by a specific term for going from the countryside to the central town or village” [J. Reiling & J.L. Swellengrebel, A handbook on the Gospel of Luke (UBS; New York 1993) 109].

[4] J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids 1997) 137.

[5] “What has been made known to them (v 15) they now make known, presumably to all who were sharing the use of the peasant home (v 18, and cf. at v 7)” [J. Nolland, Luke 1:1-9:20 (WBC 35A; Dallas 2002) 109].

[6] J.A. Fitzmyer, The Gospel According to Luke I-IX, 412.

[7] “The mention of the parents indicates that the manger child is in no sense an abandoned child” (J. Nolland, Luke 1:1-9:20, 109).

[8] J.B. Green, The Gospel of Luke, 138.

[9] “as compared with the aorist tense in the preceding verse the imperfect tense here suggests that Mary kept her experiences in mind not for a moment but for a long time” (J. Reiling & J.L. Swellengrebel, A handbook on the Gospel of Luke, 122).

[10] J.A. Fitzmyer, The Gospel According to Luke I-IX, 413.

[11] “They praise God as earlier the angelic chorus had praised him (v 13), and they glorify God, thus repeating on earth the heavenly recognition that in the birth of this child God has gained glory for himself (v 14)” (J. Nolland, Luke 1:1-9:20, 110).