Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Du Trí, SVD
- Sự Trùng Hợp Đáng Ngờ Giữa Ray Kurzweil và Pierre Teilhard de Chardin
Năm 2005, Ray Kurzweil cho xuất bản tác phẩm The Singularity Is Near. Là một kỹ sư kiêm nhà phát minh được nhiều người xem như “nhà tiên tri” của nền văn minh kỹ thuật số, Kurzweil viết về một thời điểm mà trí tuệ nhân tạo vượt qua trí tuệ con người. Thời điểm đó ranh giới giữa sinh học và máy móc tan biến, và ngay cả cái chết cũng bị khuất phục. Kurzweil gọi đó là Điểm Kỳ Dị. Ông mô tả nó bằng những từ kỳ lạ: “theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng Điểm Kỳ Dị cuối cùng sẽ thấm đẫm vũ trụ bằng tâm linh.”[2] Nói là kỳ lạ vì một câu đậm chất tâm linh như thế lại do một nhà khoa học tự nhận là thuần duy lý viết ra chứ không phải nhà thần học. Tuy nhiên, ông không phải là người đầu tiên nói đến ý tưởng về một Điểm Kỳ Dị như thế. Nửa thế kỷ trước ông, nhà thần học thời danh Pierre Teilhard de Chardin đã mô tả về một Điểm Omega, một khoảnh khắc mà mọi ý thức hội tụ vào một toàn thể sáng tạo. Người ta nhận ra lối viết giữa một nhà khoa học và một nhà thần học lại trùng khớp đến lạ.[3] Những gì Kurzweil vừa nói thuộc về tư tưởng của Chủ nghĩa Siêu nhân loại (Transhumanism) mà ông là một trong những gương mặt quan trọng của phong trào.
Dường như sự trùng hợp trên đây không phải là sự trùng hợp đơn thuần của từ ngữ giữa hai nhà tư tưởng. Hoặc ít ra sự trùng khớp về hai miêu tả của một Điểm độc đáo như thế gợi lên cho ta một câu hỏi quan trọng: liệu Chủ nghĩa Siêu nhân loại, một phong trào tri thức chủ trương dùng kỹ thuật để vượt qua mọi giới hạn sinh học của con người, có đang thực hành thần học mà không biết mình đang làm vậy? Và giả như điều đó đúng, thì thần học mà họ đang làm là loại thần học nào?
Trong bài luận khiêm tốn này, ta làm sáng tỏ rằng Transhumanism là một loại thần học thế tục méo mó từ bên trong. Loại thần học này kế thừa nguyên vẹn cấu trúc hình thức của cánh chung học Kitô giáo, nhưng thay thế ân sủng bằng kỹ thuật và quà tặng bằng thành tựu. Điểm méo mó này không những không hoàn thành con người mà hủy hoại chính con người. Từ sự sáng tỏ ấy, ta nhận ra nhân học Kitô giáo là học thuyết thật sự có thể nói điều mình muốn nói về hy vọng đích thực, và tại sao hy vọng đó không thể đến mà không có Đấng ban tặng.
- Thử Giải Phẫu Một Học Thuyết Cứu Độ Thuần Con Người
Để thấy cấu trúc thần học ẩn mình trong Transhumanism, ta cần tìm hiểu xem học thuyết này thật sự nói gì bằng lăng kính triết-thần.
Nick Bostrom là triết gia Đại học Oxford và là đồng sáng lập Hiệp hội Siêu nhân loại Thế giới. Trong bài báo “A History of Transhumanist Thought”, Bostrom định vị Transhumanism như phong trào tri thức và văn hóa. Ông cũng tin rằng việc biến đổi điều kiện con người bằng cách phát triển và phổ biến rộng rãi các công nghệ nhằm tăng cường đáng kể năng lực trí tuệ và thể chất của họ “vừa là có thể, vừa là đáng mong muốn.”[4] Ta cùng phân tích cấu trúc bốn yếu tố của quan điểm này.
Chẩn đoán thân phận
Đầu tiên, Chủ nghĩa Siêu nhân loại tuyên bố về một tình trạng đáng thương của con người. Họ nói rằng con người bị giam cầm bởi bản sắc sinh học, bị ràng buộc bởi nhận thức hữu hạn, và trên hết, bị kết án bởi cái chết. Và những giới hạn này, theo Bostrom và Kurzweil, không phải là bản chất tất yếu của nhân tính. Chúng chỉ là một “tai nạn” của tiến hóa có thể và cần được khắc phục. Đây dường như là học thuyết về tình trạng sa ngã, nhưng được họ viết lại bằng ngôn ngữ của sinh học thay vì thần học.
Hứa hẹn cứu độ
Từ trong chẩn đoán ấy, Chủ nghĩa Siêu nhân loại mạnh dạn đề xuất một chương trình cứu vãn toàn diện. Aubrey de Grey, nhà nghiên cứu lão khoa người Anh, hứa hẹn rằng y học tái tạo sẽ sớm có thể “sửa chữa” cơ thể người như sửa chữa máy móc, thậm chí có thể làm cho tuổi thọ về mặt lý thuyết là vô hạn. Kế đến, Julian Savulescu, giáo sư đạo đức sinh học tại Đại học Oxford, lập luận rằng cha mẹ có bổn phận đạo đức trong việc chọn lọc phôi thai để tối ưu hóa năng lực con cái được sinh ra. Savulescu nhấn mạnh đây là nghĩa vụ của cha mẹ chứ không phải đơn thuần là quyền.[5] Về phần mình, Kurzweil đề xuất dự án tải não người lên môi trường số để ý thức vẫn tồn tại sau khi thân xác tan rã. Chung lại, đây là lời hứa giải phóng con người khỏi những gì đang giam hãm nó, giống như cách nói về ơn cứu độ trong ngôn ngữ thần học.
Cánh chung học
Nếu thần học nói điểm đến cuối cùng của con người là ngày Cánh chung thì Chủ nghĩa Siêu nhân loại nói đích đến là Điểm Kỳ Dị. Kurzweil mô tả điểm đó như một “sự thức tỉnh vũ trụ”. Đó là khoảnh khắc trí tuệ thấm vào mọi vật chất và năng lượng, khi bản thân vũ trụ trở nên có ý thức. Ông còn viết, với sự tự ý thức rõ ràng về hàm nghĩa tôn giáo: “Trong mỗi truyền thống độc thần, Thiên Chúa được mô tả là tất cả những phẩm chất đó – trí thức vô hạn, trí tuệ vô hạn…”, và ông gợi ý rằng Điểm Kỳ Dị chính là quá trình nhân loại trở thành điều đó.[6] Đây là viễn tượng về một chung cuộc, một trạng thái viên mãn cuối cùng, nhưng không hề có Đức Kitô trong đó.
“Ân sủng” thế tục
Vì không có Đức Kitô như cứu cánh, Chủ nghĩa Siêu nhân loại đặt niệm tin nơi các phương tiện kỹ thuật để đạt đến viễn tượng như trên. Các phương tiện này gồm công nghệ CRISPR chỉnh sửa gene, giao diện nối não với máy tính, và trí tuệ nhân tạo mạnh. Điều quyết định ở đây chính là sự kỳ vọng vào khả năng tự cứu mình mà không cần bất cứ một tha nhân hay Đấng ban tặng nào từ bên ngoài. Khi năng lực kỹ thuật của con người được đẩy đến cực hạn, không có điều gì mà con người không thể tự tạo ra bằng công sức của mình.
Bốn yếu tố ta vừa trình bày (chẩn đoán thân phận, hứa hẹn cứu độ, viễn tượng viên mãn, phương tiện chuyển hóa) chính xác là bốn yếu tố cấu thành một dạng học thuyết cứu độ. Cho nên, Chủ nghĩa Siêu nhân loại không còn đơn thuần là triết học thuần túy mà đã là thần học, nhưng lại không thừa nhận mình là thần học.
- 3. Những Điều Chủ Nghĩa Siêu Nhân Loại Nắm Bắt Được
Trước hết, phản ứng của Chủ nghĩa Siêu nhân loại là kinh nghiệm lo lắng rất thật của con người. Nhìn chung con người không muốn chết, nhất là chết sớm, chết khi đời còn nhiều hứa hẹn. Đây là sự kiện nhân học căn bản. Thánh Augustinô mô tả sự kiện này bằng câu nổi tiếng: “Inquietum est cor nostrum, donec requiescat in te” (lòng chúng con không yên, cho đến khi được nghỉ ngơi trong Ngài). Cái bất an đó là dấu chứng rằng con người được tạo ra cho điều vượt quá con người. Đức Bênêđictô XVI mở đầu Thông điệp Spe Salvi bằng nhận định: con người không thể không hy vọng. Hy vọng không phải một lựa chọn thêm vào cho cuộc sống. Nói cách khác, hy vọng là đặc điểm căn bản của cuộc sống con người, và là điều phân biệt sự hiện diện của chúng ta với mọi thụ tạo khác.[7]
Chủ nghĩa Siêu nhân loại dường như bắt mạch được điểm này. Theo họ, con người không nên được dựng nên để chấp nhận cái chết và giới hạn như những điều hiển nhiên. Thực tế là lịch sử nhân loại là lịch sử của vô vàn nỗ lực không ngừng của con để tìm cách vượt qua chính mình. Từ sử thi Gilgamesh đi tìm cỏ bất tử ở đáy biển cho đến các phòng thí nghiệm sinh học hôm nay. Bostrom đã hữu lý khi đặt Chủ nghĩa Siêu nhân loại trong dòng chảy dài của truyền thống nhân văn, là truyền thống vốn học từ Kitô giáo rằng con người có một số phận vượt quá điều kiện hiện tại của mình.[8]
Vậy thì, nếu mong muốn vượt qua giới hạn là chính đáng, nếu khát vọng siêu việt là đặc điểm căn bản của con người, thì Chủ nghĩa Siêu nhân loại sai ở đâu?
- 4. Khi Muốn Thay Ân Sủng Bằng Kỹ Thuật
Có thể nói, lỗi của Chủ nghĩa Siêu nhân loại nằm ở chỗ nó hiểu sai ngữ pháp của hy vọng khi nhầm lẫn về cái gì có thể thỏa mãn khát vọng đó với phương thế đạt tới nó.
Trong Thông điệp Spe Salvi, Đức Bênêđictô phân tích một bước ngoặt lịch sử đã định hình toàn bộ tư duy hiện đại. Bước ngoặt đó do Francis Bacon đặt ra. Từ thành tựu và tầm nhìn của chương trình khoa học kỹ thuật từ thế kỷ XVII, Bacon lạc quan cho rằng “sự phục hồi những gì con người đã mất khi bị đuổi khỏi Vườn Địa đàng từ nay không còn được trông đợi từ đức tin vào Đức Giêsu Kitô; đúng hơn, nó được trông đợi từ mối liên kết vừa được khám phá giữa khoa học và thực hành.”[9] Nói cách khác, theo Bacon, ơn cứu chuộc được trao lại cho khoa học và kỹ thuật. Đây là bước chuyển mình tư tưởng được Đức Bênêđictô gọi là “đáng lo ngại.”
Nhưng sự thay thế này không xảy ra bằng một cuộc tuyên chiến công khai với thần học. Chủ nghĩa Siêu nhân loại không tìm cách xóa bỏ đức tin, nhưng đẩy đức tin sang một bên, đẩy vào lĩnh vực tư riêng và thế giới bên kia, để giao thế giới này cho khoa học kỹ thuật quản lý.
Thế nhưng, ở điểm hệ trọng nhất, kỹ thuật không thể tạo ra ân sủng.
Michael Sandel, giáo sư triết học tại Harvard, đã chỉ ra điểm chí mạng này của Chủ nghĩa Siêu nhân loại qua một ví dụ sinh động qua quan hệ cha mẹ và con cái. Khi cha mẹ nhận đứa con như một quà tặng, với những bất ngờ, những thiếu sót, những phẩm chất không được “đặt hàng”, họ buộc phải thực hành “sự cởi mở với điều không được mong đợi.”[10] Tình yêu vô điều kiện được tôi luyện từ chính sự không-kiểm-soát đó. Còn khi cha mẹ để cho kỹ thuật “thiết kế” gene của con, họ biến đứa con từ tặng phẩm sang sản phẩm, làm thay đổi cấu trúc quan hệ từ đón nhận sang sản xuất, từ ân sủng sang đặt hàng. Và một quan hệ được xây trên đặt hàng không còn là tình yêu theo nghĩa đầy đủ.
Trong The Acting Person, Đức Gioan Phaolô II cho rằng con người không thực hiện chính mình thông qua sự tích lũy hay kiểm soát. Con người hoàn thiện mình qua các lựa chọn hướng về điều thiện và hướng về tha nhân.[11] Nghĩa là con người trở nên hoàn thiện khi họ trao đi bản thân chứ không phải khi họ làm cho chính mình mạnh hơn hay có thể sống lâu hơn. Đây chính là nghịch mà Đức Giêsu đã nói: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi thì sẽ tìm được nó” (Mt 16,25). Trong khi đó, Chủ nghĩa Siêu nhân loại lại đặt kỳ vọng “làm ra” một cái tôi ngày càng mạnh hơn, độc lập hơn, thậm chí bất tử về mặt lý thuyết. Nhưng một cái tôi không thể chết như thế đồng thời cũng là một cái tôi không thể thực sự trao đi.
Đức Bênêđictô cũng cho rằng tiến bộ kỹ thuật không bao giờ có thể tích lũy thành tiến bộ đạo đức, vì “mỗi thế hệ, mỗi người đều phải bắt đầu lại từ đầu trong những quyết định căn bản.”[12] Tự do của mỗi người, điều làm cho tình yêu trở nên khả thể, không phải là một tính năng có thể nâng cấp. Bởi tình yêu là điều kiện của nhân tính. Thế hệ con cháu được thừa hưởng những thành tựu kỹ thuật của cha ông. Còn sự thánh thiện thì phải do con cháu thủ đắc thông qua thực hành nhân đức chứ không được thừa kế. Cho nên một người IQ cao như Einstein hay mức trung bình cũng không khác biệt nhau về nỗ lực nên thánh thiện, vì đó là cuộc chiến của ý chí và tình yêu. Một người sống thọ cũng không có gì bảo đảm sẽ thánh thiện hơn một người trẻ mới vào đời.
- 5. “Hậu Nhân” Có Còn Là Người?
Ta cùng thử thực hiện một thí nghiệm tư duy bằng cách đẩy chương trình Transhumanism đến tận cùng logic của nó. Khi đó, gene được viết lại theo thiết kế ưng ý của cha mẹ, não được nâng cấp bằng chip thần kinh, ý thức được sao chép lên môi trường số để tồn tại sau khi thân xác tan rã. Lúc này, câu hỏi không phải “điều đó có thực hiện được không?” mà là ở điểm nào trong chuỗi biến đổi đó, cái được gọi là “con người được nâng cấp” thực sự vẫn còn là con người?
Jürgen Habermas, triết gia Đức, đặt câu hỏi này từ góc độ chính trị và đạo đức, và câu trả lời của ông có sức nặng đáng kể. Khi cha mẹ lập trình di truyền cho một đứa con chưa sinh ra, chọn trí thông minh, thể trạng, khuynh hướng tính cách, họ thực hiện một can thiệp mà người bị can thiệp hoàn toàn không thể xem xét lại. Đứa trẻ được sinh ra có thể phản kháng các giá trị mà cha mẹ truyền dạy, có thể bác bỏ tôn giáo hay quan điểm chính trị của gia đình, có thể chọn con đường sống hoàn toàn khác với kỳ vọng ban đầu. Thế nhưng, đứa trẻ đó không thể phản kháng bộ gene đã được thiết kế của mình. Habermas gọi đây là sự phá vỡ tính đối xứng căn bản giữa những người tự do và bình đẳng. Một người bị lập trình trước khi chào đời chắc chắn không có điểm xuất phát trung tính để từ đó tự xây dựng bản sắc của mình. Người đó cũng không có chỗ đứng bên ngoài những lựa chọn người khác đã áp đặt lên cơ thể mình về mặt sinh học qua kỹ thuật gene.[13] Thông thường, bản sắc một con người được xây dựng thông qua đối thoại, qua lựa chọn, qua việc phản ứng với những gì mình được trao. Lập trình di truyền không loại bỏ bản sắc con người, nhưng nó thay đổi cấu trúc nền tảng của việc hình thành bản sắc của người đó.
Francis Fukuyama, nhà khoa học và kinh tế chính trị người Mỹ, lại tiếp cận vấn đề từ một góc nhìn khác. Trong khi Habermas lo ngại về cấu trúc tự do chính trị, Fukuyama lại đặt vấn đề điều gì làm nên phẩm giá con người? Fukuyama cho rằng có một điều ông gọi là “Factor X”, một phẩm chất nền tảng không thể định nghĩa bằng bất kỳ danh sách thuộc tính nào (lý trí, tình cảm, tự do, ngôn ngữ), nhưng hiện diện như nền tảng của mọi quyền con người. Khi bạn cố liệt kê các thuộc tính cụ thể tạo nên phẩm giá con người, bạn luôn thấy mình bỏ sót điều gì đó. Và đây chính là vấn đề đối với chương trình tăng cường chất lượng con người. Khi bạn tối ưu hóa từng thuộc tính một, bạn có thể vô tình hủy bỏ cái tổng thể mà không một thuộc tính riêng lẻ nào nắm giữ được.[14]
Trên phương diện thần học, sự sai lầm của Chủ nghĩa Siêu con người ở chỗ xác định cái chết là kẻ thù tối hậu cần phải đánh bại. Trong nhân học Kitô giáo, cái chết là kẻ thù áp chót, không phải tối hậu. Thánh Phaolô gọi cái chết là “kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt” (1 Cr 15:26). “Cuối cùng” ở đây ngụ ý rằng có nhiều kẻ thù khác đã xuất hiện trước. Kẻ thù tối hậu là tội lỗi, không phải theo nghĩa hành vi sai trái đơn thuần, mà theo nghĩa sự đứt gãy tương quan với Thiên Chúa. Đây là điều kỹ thuật không chạm được tới.
Từ đây, sự bất tử kỹ thuật mà không có ơn tha thứ không phải là thiên đường mơ ước. Một ý thức được sao chép lên server, sống mãi trong môi trường số, mang theo toàn bộ lịch sử phán xét, thù oán, và vết thương chưa lành của nó thì không thể coi là được cứu độ. Đó thậm chí có thể là địa ngục kéo dài vô hạn, khi nỗi đau và sự ê chề cứ bị kéo dài mãi trên server. Cho nên, khi đẩy đến tận cùng, Chủ nghĩa Siêu nhân loại không cứu con người mà có nguy cơ giam hãm con người trong chính mình mãi mãi.
Cuối cùng, “hậu nhân” (posthuman) hay con người đã được kỹ thuật hóa mà Transhumanism hứa hẹn lại không phải là một con người được hoàn thiện. Cái gọi là người ấy đã thoát khỏi giới hạn sinh học, đã thoát khỏi cơ thể, đã thoát khỏi cái chết. Nhưng trong khi thoát khỏi tất cả những điều đó, nó đã thoát khỏi luôn cái làm cho con người là người, một hữu thể ôm trong nó tính hữu hạn được yêu, thân xác được cứu chuộc, cái chết được vượt qua vì được biến đổi.
- 6. Sự Lên Tiếng Của Nhân Học Kitô Giáo
Ở đây, nhân học Kitô giáo có thể phát biểu điều mình thực sự muốn nói, nhờ một sự hiểu biết sâu hơn về con người là gì.
Điểm xuất phát của nhân học Kitô giáo không phải là để bảo vệ một danh sách thuộc tính bất biến của “bản chất người.” Bởi vì, nói theo cách của Fukuyama, người ta luôn có thể hỏi, “Tại sao thuộc tính này chứ không phải thuộc tính khác?”. Thay vào đó, điểm xuất phát của thần học Kitô giáo là một luận điểm về tương quan, ở đó con người là hình ảnh Thiên Chúa (imago Dei) không phải vì sở hữu bất kỳ thuộc tính đặc biệt nào (lý trí, tự do, ngôn ngữ) mà vì được gọi vào trong tương giao với Thiên Chúa, do ý muốn của Chúa. Vì thế, imago Dei là ơn gọi trước khi là bản chất. Con người là hình ảnh Thiên Chúa theo nghĩa con người được dựng nên để hướng về Ngài, để đáp lại tiếng gọi của Ngài, và để sống trong tương quan với Ngài.
Đức Bênêđictô XVI phát biểu điều này hết sức rõ ràng mà Chủ nghĩa Siêu nhân loại không thể bác bỏ bằng bất kỳ chương trình tăng cường con người nào. Ngài nói: “Sự sống theo nghĩa đích thực không phải là điều chúng ta có duy nhất từ nơi mình hay trong nội tâm mình: đó là một quan hệ. Và sự sống trong toàn bộ của nó là quan hệ với Đấng là nguồn mạch sự sống. Nếu chúng ta ở trong quan hệ với Đấng không chết, Đấng là Sự Sống và Tình Yêu chính mình, thì chúng ta đang sống.”[15] Sự sống đích thực, theo cách hiểu này, không phải sự kéo dài của một cá nhân sinh học hay sự duy trì của một ý thức được mã hóa số. Sự sống này là sự tham dự vào một quan hệ với Đấng đã chiến thắng cái chết vĩnh viễn.
Từ đây, người ta rút ra hai hệ quả quan trọng đối với cuộc tranh luận hiện nay:
Thứ nhất, không AI nào có thể đe dọa phẩm giá con người theo nghĩa này (theo điều Đức Bênêđictô nói ngay trên đây). Dù một hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể mô phỏng tư duy, sáng tạo, và ngôn ngữ đến mức nào, nó không thể được gọi vào quan hệ với Thiên Chúa theo nghĩa Kitô giáo. Bởi vì quan hệ đó là một ân ban chứ không phải một năng lực. Thế nên, câu hỏi về “AI có phá vỡ imago Dei không?” tự nó đã có câu trả lời là không.
Thứ hai, không một kỹ thuật sinh học nào có thể tăng cường phẩm giá con người theo nghĩa này. Nâng IQ lên 500 cũng không đưa một người gần hơn đến Thiên Chúa. Hay kéo dài tuổi thọ người lên một ngàn năm cũng không tất nhiên làm sâu hơn quan hệ tình yêu với Chúa. Vì tương quan với Chúa tự bản chất là một ân sủng chứ không phải kỹ thuật.
Ở bình diện Kitô học, trong khi Transhumanism tìm cách cứu con người bằng cách đẩy con người vượt qua chính mình, con đường của Kitô giáo có một logic cứu độ hoàn toàn khác. Thiên Chúa cứu con người bằng cách trở thành con người. Biến cố Chúa Nhập thể không phải là một bước đệm tạm thời. Đó là tuyên bố vĩnh cửu rằng thân xác con người, dù hữu hạn, được Chúa tạo dựng, tự nó là đủ tốt để trở thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa. Và biến cố Phục sinh không phải là sự thoát khỏi thân xác, không phải là sự bất tử của linh hồn đơn thuần, càng không phải là việc tải ý thức lên đám mây số. Đó là biến đổi của thân xác này, ngôi vị quan hệ này, lịch sử cụ thể này, được đưa vào sự sống của Thiên Chúa mà không bị xóa bỏ.
Đây chính là nền tảng làm nên sự khác biệt căn bản giữa hai loại hy vọng. Hy vọng của Transhumanism là hy vọng về sự tồn tục của cái tôi cá nhân, được nâng cấp và kéo dài thành bất tử. Còn hy vọng Kitô giáo là hy vọng về sự biến đổi của một ngôi vị quan hệ, trong hiệp thông với tha nhân và với Thiên Chúa. Cái trước thì cần kỹ thuật, còn cái sau cần Đấng Ban Tặng. Khát vọng siêu việt của con người là thật và chính đáng. Nhưng khát vọng đó, khi không có Người Ban Tặng, khi chỉ dựa vào chính con người để tự hoàn thiện mình, cuối cùng quay vào một vòng khép kín. Cái nó hứa hẹn chỉ là một cái tôi mạnh hơn, sống lâu hơn, nhưng vẫn mãi chỉ là chính mình.
- Câu Hỏi Transhumanism Để Lại cho Thần Học
Chủ nghĩa Siêu nhân loại, dù méo mó về thần học, đã đặt ra những câu hỏi quan trọng. Trong một thế giới mà tăng cường nhận thức, chỉnh sửa gene, và kéo dài tuổi thọ sẽ dần trở nên phổ thông như vaccine, không phải chỉ cho một số ít người giàu mà cho nhiều tầng lớp xã hội, Giáo hội sẽ nói gì với một người Kitô hữu đang đứng trước các lựa chọn. Chẳng hạn, có nên can thiệp gene để con mình sinh ra tránh được một căn bệnh di truyền hay không? Có nên dùng thuốc tăng cường nhận thức để làm việc hiệu quả hơn trong ơn gọi của mình? Rõ ràng đó là các câu hỏi của thời đại công nghệ mà đến lúc Giáo hội, dưới ánh sáng Lời Chúa, phải đưa ra hướng dẫn cho con cái mình.
Cho đến nay, nhân học Kitô giáo có đủ khả năng để phân biệt đâu là tăng cường phục vụ tương giao và hiến dâng, đâu là tăng cường phục vụ tự đóng kín và kiểm soát; đâu là can thiệp giúp con người nở hoa trong ơn gọi của mình, đâu là can thiệp thay thế chính ơn gọi đó bằng một chương trình kỹ thuật. Thế nhưng, những phân biệt này cần được triển khai thành một thần học mục vụ cụ thể, không phải chỉ được phát biểu ở mức độ nguyên tắc.
[1] Chủ nghĩa siêu nhân loại (Transhumanism) là một phong trào tư tưởng chủ trương rằng con người có thể và nên dùng công nghệ (kỹ thuật di truyền, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano, dược phẩm tăng cường nhận thức, kéo dài tuổi thọ) để vượt qua những giới hạn sinh học căn bản của mình như bệnh tật, lão hóa, cái chết, và các giới hạn về trí tuệ lẫn thể chất. Luận điểm của chủ nhĩa này nói rằng bản tính con người không phải là cái đã hoàn tất và cố định, mà là một “công trình dang dở” có thể được tái thiết kế. Đích nhắm tới là tình trạng “hậu nhân loại” (posthuman), ở đó các hữu thể có năng lực vượt xa con người hiện nay đến mức không còn được coi là người theo nghĩa hiện tại. Về phả hệ, nó nối dài niềm tin của chủ nghĩa nhân văn Khai Minh vào lý trí và tiến bộ. Thuật ngữ Transhumanism được Julian Huxley phổ biến năm 1957, và được các tác giả như Nick Bostrom, Max More, Ray Kurzweil triển khai thành lý thuyết đương đại. x. John Kennedy Philip, “A Philosophical History of Transhumanism,” Philosophy Now, no. 160 (2024), https://philosophynow.org/issues/160/A_Philosophical_History_of_Transhumanism.
[2] X. Ray Kurzweil, The Singularity Is Near: When Humans Transcend Biology (New York: Viking, 2005), 388.
[3] X. Pierre Teilhard de Chardin, The Phenomenon of Man, trans. Bernard Wall, intro. Julian Huxley (New York: Harper Perennial Modern Thought, 2008), 257-72; về sự quy tụ của mọi ý thức vào Điểm Omega như “tâm điểm của các tâm điểm” (centre of centres), xem 259-60; về bốn thuộc tính của Omega (tự trị, hiện thực, bất khả hoán, siêu việt), xem 270-72.
[4] Nick Bostrom, “A History of Transhumanist Thought,” Journal of Evolution and Technology 14, no. 1 (2005): 17.
[5] Julian Savulescu, “Procreative Beneficence: Why We Should Select the Best Children,” Bioethics 15, no. 5-6 (2001): 413-426
[6] Kurzweil, The Singularity Is Near, 389.
[7] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Spe Salvi (2007), §§2-3.
[8] Bostrom, “A History of Transhumanist Thought,” 1-3.
[9] Đức Bênêđictô XVI, Spe Salvi, §17.
[10] X. Michael Sandel, The Case Against Perfection: Ethics in the Age of Genetic Engineering (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2007), 45.
[11] X. Karol Wojtyła (Giáo hoàng Gioan Phaolô II sau này), The Acting Person, trans. Andrzej Potocki (Dordrecht: D. Reidel, 1979), phần II, chương 3-4, đặc biệt tr. 105-135.
[12] X. Đức Bênêđictô XVI, Spe Salvi, §24.
[13] Jürgen Habermas, The Future of Human Nature (Cambridge: Polity Press, 2003), 14, 63. Lập luận cốt lõi (p. 14): “When one person makes an irreversible decision that deeply intervenes in another’s organic disposition, the fundamental symmetry of responsibility that exists among free and equal persons is restricted… the adult would remain blindly dependent on the nonrevisable decision of another person, without any opportunity to establish the symmetrical responsibility required if one is to enter into a retroactive ethical self-reflection as a process among peers.” Hệ quả (p. 63): eugenic enhancement bars the person “from the spontaneous self-perception of being the undivided author of his own life.”
[14] Francis Fukuyama, Our Posthuman Future: Consequences of the Biotechnology Revolution (New York: Picador, 2003), 149-150, 171. Định nghĩa (p. 149): “when we strip all of a person’s contingent and accidental characteristics away, there remains some essential human quality underneath that is worthy of a certain minimal level of respect – call it Factor X.” Kết luận (p. 171): “Factor X cannot be reduced to the possession of moral choice, or reason, or language, or sociability, or sentience, or emotions, or consciousness, or any other quality that has been put forth as a ground for human dignity. It is all of these qualities coming together in a human whole.”
[15] Đức Bênêđictô XVI, Spe Salvi, §27.











