Lời Chúa + Bài giảng Chúa Nhật 15 Thường Niên – Năm C

0
836

Bài Ðọc I: Ðnl 30, 10-14

“Lời ở sát bên các ngươi, để các ngươi thực thi”.

Trích sách Ðệ Nhị Luật.

Môsê nói cùng dân chúng rằng: “Nếu các ngươi nghe tiếng Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ các giới răn và huấn thị của Người đã được ghi chép trong sách Luật này, hãy trở về cùng Chúa là Thiên Chúa các ngươi hết lòng và hết linh hồn các ngươi. Thánh chỉ ta truyền cho các ngươi hôm nay không quá khó khăn cũng không quá sức các ngươi. Nó không phải ở đâu trên trời, để các ngươi có thể nói: ‘Ai trong chúng tôi có thể lên trời mang luật xuống giảng cho chúng tôi nghe để chúng tôi thực hành được?’ Nó cũng không phải ở bên kia biển, để các ngươi viện lẽ nói rằng: ‘Ai trong chúng tôi có thể vượt biển, và mang nó về cho chúng tôi, để chúng tôi được nghe và thực hành điều đã truyền dạy?’ Nhưng lời ở sát bên các ngươi, nơi miệng các ngươi, trong lòng các ngươi, để các ngươi thực thi”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 68, 14 và 17. 30-31. 33-34. 36ab và 37

Ðáp: Các bạn khiêm cung, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh (c. 33).

Xướng: 1) Lạy Chúa, con dâng lời nguyện cầu lên Chúa, ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương. Xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, theo ơn phù trợ trung thành của Chúa. Lạy Chúa, xin nhậm lời con vì lòng khoan nhân trắc ẩn, theo lượng cả đức từ bi, xin nhìn đến tấm thân con. – Ðáp.

2) Phần con, con đau khổ cơ hàn, lạy Chúa, xin gia ân phù trợ bảo toàn thân con. Con sẽ xướng bài ca ngợi khen danh Chúa, và con sẽ chúc tụng Ngài với bài tri ân. – Ðáp.

3) Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người cơ khổ và không chê bỏ con dân của Người bị bắt cầm tù. – Ðáp.

4) Vì Thiên Chúa sẽ cứu độ Sion, Người sẽ tái thiết thành trì của Giuđa, con cháu của bầy tôi Chúa sẽ thừa hưởng đất này, và tại đây những người yêu danh Chúa sẽ định cư. – Ðáp.

Bài Ðọc II: Cl 1, 15-20

“Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.

Ðức Giêsu Kitô là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi tạo vật; vì trong Người muôn loài trên trời dưới đất đã được tác thành, mọi vật hữu hình và vô hình, dù là các Bệ thần hay Quản thần, dù là Chủ thần hay Quyền thần: Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người. Và Người có trước mọi loài và mọi loài tồn tại trong Người. Người là đầu thân thể tức là Hội thánh, là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài. Vì chưng, Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người. và Thiên Chúa đã giao hoà vạn vật nhờ Người và vì Người; nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới đất.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Lc 19, 38

Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng nhân danh Chúa mà đến, bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. – Alleluia.

Phúc Âm: Lc 10, 25-37

“Ai là anh em của tôi?”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có một người thông luật đứng dậy hỏi thử Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời”. Người nói với ông: “Trong Lề luật đã chép như thế nào? Ông đọc thấy gì trong đó?” Ông trả lời: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy thương mến anh em như chính mình”. Chúa Giêsu nói: “Ông đã trả lời đúng, hãy làm như vậy và ông sẽ được sống”. Nhưng người đó muốn bào chữa mình, nên thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Nhưng ai là anh em của tôi?” Chúa Giêsu nói tiếp:

“Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, và rơi vào tay bọn cướp; chúng bóc lột người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ một tư tế cũng đi qua đường đó, trông thấy nạn nhân, ông liền đi qua. Cũng vậy, một trợ tế khi đi đến đó, trông thấy nạn nhân, cũng đi qua. Nhưng một người xứ Samaria đi đường đến gần người ấy, trông thấy và động lòng thương. Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo rằng: ‘Ông hãy săn sóc người ấy và ngoài ra, còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại ông’. Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?” Người thông luật trả lời: “Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy”. Và Chúa Giêsu bảo ông: “Ông cũng hãy đi và làm như vậy”.

Ðó là lời Chúa.

Bài giảng chủ đề:

NGƯỜI THÂN CẬN

Tu sĩ Phêrô Nguyễn Bảo Lộc, SVD

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu kể dụ ngôn “người Samari tốt lành” để trả lời cho người thông luật muốn gài bẫy Người khi đặt câu hỏi: “Ai là người thân cận của tôi”? Đối với những người Do Thái, người thân cận là đồng bào, đồng đạo, thuộc dân Thiên Chúa. Cho nên, khi đặt câu hỏi cho Đức Giêsu, rất có thể người thông luật muốn tìm một câu định nghĩa đầy đủ hơn về “người thân cận”. Mặc dầu vậy, Đức Giêsu cho thấy rằng, định nghĩa về “người thân cận” không quan trọng cho bằng việc thực thi bác ái với người thân cận.

Trong dụ ngôn Đức Giêsu kể, người Samari đã sống giới răn trọng nhất mà ông không hay biết, hay nói cách khác, ông không cần một định nghĩa về “người thân cận” của ông. Ông chỉ hành động theo sự thúc đẩy của con tim. Tình yêu mà ông dành cho nạn nhân bên đường vượt lên trên các ranh giới, rào cản của sự kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, và địa vị. Thiết tưởng, chỉ có một tình yêu đích thực và vô vị lợi mới khiến ông ta hành động cách ân cần và chu đáo đến như vậy. Thoạt tiên ông thấy, rồi liền chạnh lòng thương, và ngay sau đó là đến bên cạnh để cứu giúp. Ông xức dầu và rượu lên vết thương nạn nhân, băng bó lại, rồi mau chóng đưa nạn nhân đến quán trọ để được chăm sóc tốt hơn. Suốt quá trình ấy, ông không hỏi về nguồn gốc và tôn giáo của nạn nhân. Sau khi đưa người bị nạn về quán trọ, ông không ra đi ngay nhưng ân cần chăm sóc suốt ngày hôm đó đến đêm muộn. Tình yêu không nhiều lời, không nệ luật, nhưng hành động cụ thể và mạo hiểm, chấp nhận các hệ lụy có thể có. Cho nên, trước câu hỏi của người thông luật, thay vì trả lời trực tiếp, Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn người Samari tốt lành này để cho ông suy xét. Cho đến cuối cuộc đối thoại, Chúa Giêsu bảo người thông luật: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy,” nghĩa là như người Samari. Qua đó, chúng ta nhận ra rằng: người thân cận của chúng ta là người đến bên cạnh để giúp đỡ chúng ta trong khi chúng ta gặp nạn, gặp thử thách, gặp bế tắc trong cuộc sống. Người thân cận không phải đâu xa mà có thể là người cùng sống chung nhà, cùng nhóm sinh họat, cùng khu xóm hay chỉ là tình cờ chúng ta gặp họ ngoài đường và được họ giúp đỡ.

Trong cuộc sống, biết bao lần chúng ta đã đi qua nỗi đau của nhiều người. Có khi chỉ là tình cờ thôi. Có khi chúng ta sống với họ mà không nhận ra nỗi bất hạnh của họ. Có những người bị nạn nằm ngay trên lối đi của chúng ta, chúng ta thấy, nhưng chúng ta không dừng lại, bởi vì, chúng ta cho rằng mình còn có việc phải làm. Chúng ta sợ rằng quan tâm họ sẽ làm ảnh hưởng đến mình, thậm chí vướng phải rủi ro. Thường thì chúng ta không muốn bị phiền hà liên lụy vì những người mình không quen, không biết. Cho nên, qua dụ ngôn người Samari nhân hậu, Chúa mời gọi chúng ta phải có lòng trắc ẩn với tất cả mọi người gặp khó khăn, bất hạnh, đau khổ, chứ không phải chỉ giới hạn nơi những người mà chúng ta quen biết. Chúa Giêsu đã không những chỉ dạy về sự chạnh lòng thương, mà chính Ngài đã thực thi lòng thương xót; chính Ngài đã đóng vai trò của người Samari tốt lành. Chính Ngài đã cứu giúp cả nhân loại đang khi tất cả đều là nạn nhân khốn khổ của tội lỗi và sự chết do Nguyên Tổ phạm tội. Thật vậy, tình yêu thương, sự chạnh lòng thương xót của Thiên Chúa được thể hiện qua việc Con Thiên Chúa nhập thể, mang lấy thân phận con người, cùng chịu đau khổ, chịu chết và sống lại để cứu độ thế giới. Đối lại, các thầy tư tế và thầy Lêvi dùng lý do để biện minh cho sự thiếu xót thương của họ. Vì giữ luật cách cứng rắn, họ đã không thể đưa tay ra cho người cần được cứu giúp. Chúa Giêsu thì đã vượt qua luật lệ trói buộc, hay nói cách khác, Người đã làm cho luật lệ và giới răn nên hoàn hảo ngang qua hành động xót thương. Ngài đã đến với từng người, Ngài không đứng xa nhìn con người đương đầu với những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Ngài chính là người Samari nhân hậu đến bên con người, nhìn họ với ánh mắt đầy trắc ẩn, cảm thông, rồi cúi xuống băng bó các vết thương cho họ. Điều này được đề cập trong bài đọc 2 trong thư của Thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côlôxê: “Nhờ Người mà muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ Máu của Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1, 15-20).

Hôm nay, Chúa Giêsu cũng mời gọi mỗi người chúng ta: “Hãy đi và làm y như vậy”. Chúng ta hãy đi và làm như người Samari đã làm là chân tình giúp đỡ, băng bó các vết thương của những người đau yếu, bệnh tật, cô đơn, nghèo đói và tội lỗi. Thay vì đặt vấn đề: “Ai là anh em tôi?” chúng ta cần ra đi và trở thành anh em của hết mọi người. Thay vì dừng lại tìm xem người đó là ai, có đạo hay không có đạo, chúng ta đi và làm như người Samari kia, nhìn thấy vết thương thì băng bó, nhìn thấy người đau khổ thì cứu giúp. Chúng ta cần vượt qua quan niệm hẹp hòi về chủng tộc và tôn giáo để có thể sống tình huynh đệ đại đồng. Trong dụ ngôn, người Samari nhân hậu đã trở nên người anh em thân cận, gần gũi với người bị nạn, mặc dù ông không cùng chủng tộc và tôn giáo. Hơn nữa ông còn bị coi như kẻ thù của người Do Thái bị nạn này. Trong khi đó, hai thầy Tư tế và Lêvi vừa là người Do Thái vừa là bậc thầy trong dân lại coi kẻ đồng đạo, đồng bào là người xa lạ.

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và nhà thông luật đã giúp chúng ta hiểu về người thân cận. Người thông luật đến với Chúa Giêsu để tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình. Và đây cũng là thắc mắc của mọi người. Và câu trả lời thì thật đơn giản: hãy trở nên người thân cận của người khác. Chúng ta cần biết dừng lại để giúp đỡ những ai đang cần đến chúng ta, biết chia sẻ với những khó khăn của tha nhân. Thầy Tư tế và Lê vi đã bỏ lại đằng sau tiếng kêu cứu của đồng loại. Điều này không quá khác với thế giới chúng ta đang sống, nơi đó, nhiều người luôn hối hả, bận rộn để lo cho bản thân và gia đình, để rồi quyết định bỏ lại sau lưng những người đang kêu xin lòng trắc ẩn. Thật tốt nếu ai cũng tâm niệm để có thể đem ra hành động điều xác tín này: một cuộc đời có ý nghĩa là cuộc đời biết chia sẻ thời giờ để sống với tha nhân trong yêu thương và phục vụ.

Qua dụ ngôn người Samari nhân hậu, Chúa Giêsu dạy chúng ta hiểu rằng, tuy nhiều người tìm kiếm con đường dẫn đến sự sống đời đời nhưng chỉ người đi với trái tim trắc ẩn mới mong đến đích. Thầy Tư Tế và Thầy Lêvi đã rẽ sang hướng khác vì họ không biết chạnh lòng thương người khác. Người xứ Samari đã đi đến nơi vì ông đi đường với trái tim nhân hậu, trái tim rất nhạy bén, rất quan tâm những ai đang cần sự giúp đỡ. Với trái tim ấy, ông đã yêu người thân cận như chính mình. Với trái tim ấy, ông đã mở đường đi đến sự sống đời đời. Chắc chắn, Chúa Giêsu mong muốn mỗi người tín hữu chúng ta tự xem lại mình và hành động như người Samari nhân hậu. Bằng cách này, chúng ta cùng tham gia với Chúa để mang lại sự cứu rỗi và cuộc sống vĩnh hằng cho nhân thế.

Lạy Chúa, xin cho con có lòng trắc ẩn với những người ở bên con, ở gần con và những người con vô tình gặp trên đường đời để chính con và họ là người thân cận của nhau, là anh em của nhau. Amen.


 

SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

Tu sĩ Phêrô Phan Thái Hiền, SVD

Khi nói về sự sống đời sau, chúng ta sẽ có hai quan điểm đối lập nhau. Đối với người hữu thần, họ tin có thượng đế và có sự sống đời sau. Đối với người vô thần, họ lại không tin như thế. Cách riêng, người Kitô hữu, chúng ta luôn tin có Thiên Chúa duy nhất và có sự sống đời đời. Vì thế, cả cuộc đời mình, người Kitô hữu luôn tìm kiếm và phụng thờ Thiên Chúa và mong đạt được sự sống đời đời. Vậy làm thế nào để có sự sống đời đời? Dựa vào Tin Mừng hôm nay, qua câu trả lời của người thông luật, chúng ta biết rằng để có được sự sống đời đời thì chúng ta phải tuân giữ hai giới răn sau đây:

Giới răn thứ nhất: Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực.

            Yêu là phải hành động. Nếu chúng ta yêu một ai đó mà chỉ dựa vào lời nói thì dường như chúng ta đang mù quáng và mạo hiểm để đón nhận tình yêu ấy, vì lời nói dễ bị gió cuốn bay, nó chỉ mang tính nhất thời mà không có gì là chắc chắn. Vì thế, để biết một tình yêu là thật lòng hay không thì chúng ta cần phải dựa trên hành động, việc làm của họ. Vì càng thực sự yêu, chúng ta càng sáng tạo trong cách yêu, làm nhiều việc cho người mình yêu và hy sinh rất nhiều cho người mình yêu. Cũng vậy khi chúng ta nói yêu mến Thiên Chúa thì nó đòi buộc chúng ta thể hiện sự yêu mến này bằng những hành động cụ thể. Có nhiều cách để thể hiện lòng mến với Thiên Chúa. Trong bài đọc I, sách Đệ Nhị Luật, ông Môsê kêu gọi dân Ítraen trở lại, nghe và tuân giữ mệnh lệnh của Thiên Chúa rồi Ngài sẽ cho họ được hạnh phúc, sung túc và thành công. Như thế, chúng ta nhận thấy rằng Thiên Chúa luôn luôn dành cho dân của Ngài những điều tốt nhất. Để hưởng được những điều này, dân của Ngài cần phải nỗ lực trở lại, lắng nghe và thực hành Lời của Ngài. Vì thế, xét một góc độ nào đó, việc trở lại, nghe và thực hành mệnh lệnh của Thiên Chúa là hành động yêu mến Thiên Chúa thật tâm. Vì chỉ khi còn yêu thì còn muốn trở lại để hàn gắn những điều đã bỏ lỡ hay đổ vỡ. Chỉ khi yêu thì mới biết lắng nghe và giữ Lời của Thiên Chúa, vì “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” (Ga 14, 21).

            Yêu là phải mãnh liệt. Không chỉ dừng lại ở khía cạnh yêu mến phải được thể hiện bằng hành động, sách luật còn đòi buộc chúng ta yêu mến Thiên Chúa ở một mức độ tuyệt đối: yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực; nghĩa là chúng ta chỉ tôn thờ và yêu mến một mình Ngài mà thôi, phải yêu bằng cả trái tim, tâm trí và sức lực thể lý. Đây là một đòi hỏi rất khó đối với chúng ta nhưng nếu chúng ta luôn lắng nghe và thực hành các lời dạy của Thiên Chúa và luôn chạy đến với Ngài thì Ngài sẽ ban cho chúng ta tất cả những gì để sinh ơn ích cho chúng ta, để ta yêu mến Ngài nhiều hơn.

            Quả thực, yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa “hết lòng, hết sức, hết trí khôn” là một bổn phận của người Kitô hữu. Nhưng tình yêu đối với Thiên Chúa phải được thực sự triển nở nơi tình yêu đối với đồng loại. Hay nói cách khác, tình yêu đối với Thiên Chúa phải là khơi nguồn cho tình yêu đối với tha nhân vì “không thể yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20).

Giới răn thứ hai: yêu mến người thân cận như chính mình.

            Trong bối cảnh người thông luật đặt câu hỏi cho Đức Giêsu “ai là người thân cận của tôi?”, Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn người Samari nhân hậu để trả lời cho ông. Dụ ngôn kể về vị Tư tế và thầy Lêvi đã tránh né giúp đỡ người gặp nạn trên đường từ Giêrusalem xuống Giêricô. Ngược lại, người Samari lại chạnh lòng thương mà băng bó vết thương, đưa về quán trọ, nhờ chủ quán săn sóc rồi trả hết mọi phí tổn. Cuối câu chuyện người thông luật đã khẳng định người Samari là người thân cận của người bị nạn. Nếu để ý, chúng ta thấy điều độc đáo nơi Đức Giêsu. Người thông luật là bậc thầy về luật, ông biết người thân cận là người cùng chủng tộc Dothái (x. Lv 19,34), mở rộng hơn là các ngoại kiều trong xứ sở (x. Đnl 19,10). Thế nhưng, ông đã xác nhận người Samari-người ngoại giáo đối với người Dothái là người thân cận của người bị nạn chứ không phải là vị Tư tế hay thầy Lêvi. Theo các nhà chú giải, người bị nạn là người Do thái, thế mà ông không những không được cứu giúp bởi những bậc thầy của ông, mà còn bị bỏ mặc nửa sống nửa chết. Qua đó, Đức Giêsu đã chỉ cho chúng ta khái niệm người thân cận hoàn toàn mới so với luật lệ bấy giờ, đó là bất cứ ai cần sự trợ giúp đều là người thân cận của chúng ta, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, giai cấp… miễn là cứu chữa người.

            Nhìn vào cách hành xử của ba nhân vật trong bài Tin mừng, chúng ta thấy vị Tư tế và thầy Lêvi đại diện cho tinh thần sống đạo vị luật, yêu mến là nghiêm khắc tuân giữ các luật lệ trên mặt chữ vì luật dạy rằng Tư Tế không được đụng vào thây người chết vì sợ bị ô uế (x. Lv 21,1). Nạn nhân dở sống, dở chết, tức là có thể chết. Vì thế, vị Tư Tế và thầy Lêvi không dám chạm đến người có thể chết. Họ ứng xử như thế là phải lẽ và hợp luật. Vì thế, họ bị luật lệ ngăn cản thực thi lòng thương xót. Còn người Samari đại diện cho tinh thần sống luật mới, đó là thực hành luật yêu thương, yêu thương không bị trói buộc bởi luật lệ thụ động trên mặt chữ, mà phải năng động vượt qua giới hạn của giai cấp, chủng tộc. Chính hành động của người Samari là hành động yêu thương người thân cận mà Đức Giêsu muốn chúng ta thực hiện chứ không phải là cách sống vị luật như vị Tư tế và thầy Lêvi. Luật yêu thương phải vượt lên trên lề luật ghi chép, luật lệ phải là hành động phục vụ giới luật yêu thương.

            Theo các nhà chú giải, người Samari nhân hậu chính là Đức Giêsu. Người là Con Thiên Chúa, được coi là “người ngoại giáo” so với con người. Người đã chạnh lòng thương khi thấy loài người đang bị thương tích do tội lỗi. Nên Người tự nguyện làm Vị Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người. Người đã đến với loài người để chữa lành những vết thương tâm hồn lẫn thể xác bằng cái chết của Người trên thập giá, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì người mình yêu. Điều này được thánh Phaolô khẳng định trong bài đọc II rằng: “vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,19-20). Chính cái chết của Đức Giêsu là mô mẫu cho giới luật yêu thương, để thi hành luật yêu thương với tha nhân, sẵn sàng giúp đỡ khi người khác cần mà không cần phải quan tâm đến huyết thống, giai cấp, chủng tộc hay tôn giáo của họ. Và nếu cần thiết thì sẵn sàng hy sinh quyền lợi, tính mạng cho người khác khi họ gặp khó khăn.

            Qua dụ ngôn người Samari nhân hậu, chúng ta biết được người thân cận với chúng ta là tất cả những người cần chúng ta giúp đỡ, và ngược lại. Đồng thời, Tin Mừng dạy ta cách thức sống điều răn “yêu mến người thân cận như chính mình,” tình yêu vượt qua mọi biên giới, sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai gặp khó khăn, gian nan, đặc biệt là những người nguy tử. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, có rất nhiều người thân cận với chúng ta, họ đang đói, khát, bệnh tật, bấn loạn tâm lý, chiến đấu với cái chết. Họ đang bị con virút Corona hành hạ thân xác, làm cho người ta nửa sống nửa chết, thoi thóp nằm vất vưởng khắp nơi như bệnh viện, khu cách ly, bên các ngả đường, nơi gầm cầu cuối phố… Họ là những người thân cận của chúng ta, họ cần hình ảnh người Samari trong mỗi chúng ta đến bên họ để băng bó vết thương lòng bằng lời động viên; họ cần chúng ta đỡ họ lên lưng lừa bằng cách tăng sức đề kháng để chống lại con virút; họ cần chúng ta đưa họ về nhà trọ và chăm sóc với những hạt gạo, giọt nước, ống oxy… Đó là hiện trạng ngày nay. Nhìn vào thực tế và đối chiếu với Lời Chúa hôm nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải hành động cứu giúp người thân cận của chúng ta bằng những hành động cụ thể: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, thăm viếng kẻ bệnh tật, an ủi kẻ âu lo…

            Nói tóm lại, để được sự sống đời đời đòi buộc chúng ta sống trọn hai giới luật “yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân.” Yêu Chúa là lắng nghe và thực hành huấn lệnh của Ngài, và biết quay trở lại với Ngài khi lỗi phạm. Yêu mến người thân cận như chính mình, nghĩa là nếu chúng ta chỉ muốn điều lành, điều tốt, hạnh phúc, bình an, thuận lợi, thành công… thì chúng ta cũng nên mong muốn điều đó cho người khác, thậm chí phải giúp người khác đạt được những điều đó nếu có thể. Điều này giống như luật vàng dạy rằng: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12). Và nếu cần thiết, chúng ta có thể sẵn sàng hy sinh tính mạng vì người khác như Đức Kitô đã chết cho chúng ta, điều mà bài đọc II đã thuật lại.

            Lạy Chúa, xin nhắc chúng con luôn nhớ mãi câu hỏi của người thông luật “thưa thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời” trong tâm trí chúng con, để chúng con luôn khắc khoải và tìm kiếm không ngừng sự sống ấy qua việc lắng nghe và thực hành Lời Ngài, để chúng con luôn giữ trọn hai giới luật “mến Chúa và yêu người” thể hiện qua hành động chứ không phải qua câu chữ. Amen.


 

KHÔNG CỨU SỐNG LÀ GIẾT CHẾT

Lm. Phêrô Lê Trung Phước, SVD

Lời Chúa trong Tin Mừng Luca hôm nay tường thuật cho chúng ta dụ ngôn người Samari tốt lành. Một người thông luật đến hỏi Chúa Giêsu để thử Người là: “Tôi phải làm gì để được sống đời đời?” Vì đây là một người giỏi luật, nên Chúa Giêsu không đọc luật cho ông, nhưng Chúa Giêsu hỏi ông đã đọc luật thế nào và luật viết gì về điều này? Chính ông đã trả lời: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình”. Mặc dù ông biết như vậy, nhưng vẫn muốn thử Chúa Giêsu một lần nữa để xem Ngài trả lời thế nào. Ông hỏi: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?”. Chúa Giêsu đã kể cho ông dụ ngôn người Samari tốt lành và bảo ông: “Hãy đi và làm như vậy?”

Dụ ngôn này cho biết có một người bị cướp dọc đường, bị đánh nửa sống nửa chết. Một thầy tư tế đi qua: thấy, tránh sang một bên, rồi đi tiếp. Một thầy Lêvi đi qua: thấy, cũng tránh qua và đi luôn. Một người Samari đi qua cũng thấy. Ông dừng lại, lấy dầu xoa bóp, đỡ lên lừa, đưa đến quán trọ, gửi chủ quán tiền và nhờ chăm sóc, đồng thời hứa sẽ trả tiền thêm để tiếp tục chăm sóc cho bệnh nhân. Thầy tư tế, thầy Lêvi, đều là những người đạo đức, thường làm việc cho Chúa và chuyên lo việc đền thờ. Còn người Samari kia là một người ngoại giáo, là người bị giới lãnh đạo tôn giáo và dân chúng Do Thái lúc bấy giờ chê bai và khinh ghét. Cả ba người này đều đang có việc cần, đi qua con đường đó, có lẽ cả ba người này đều bận rộn nhưng thầy tư tế và thầy Lêvi không thể dừng lại một chút, còn người ngoại giáo, bị coi là quân tội lỗi thì dám dừng lại một chút và làm tất cả những gì ông có thể làm, rồi sau đó đi công việc và hứa sẽ quay lại tiếp.

Cuộc sống hôm nay của mỗi người đều có những công việc bận rộn, vội vã. Có thể nói thời giờ là vàng bạc nên khó khăn lắm mới tìm được giờ để đi dự lễ. Còn những việc bác ái thì khó có thể xếp thời gian làm được. Chúa Giêsu dùng hình ảnh người bị cướp đánh nửa sống nửa chết để cho thấy rằng đây là một việc làm cấp cứu, một việc cần gấp, một việc cần sự can đảm để cứu giúp người khác. Và đây cũng là một công việc hoàn toàn do lương tâm định đoạt, làm và không làm là hoàn toàn tự do. Không ai có thể quy tội cho người không làm. Có bao lần trong cuộc đời chúng ta đã chứng kiến những nạn nhân gặp tai nạn trên đường đi, và đã có bao lần chúng ta quan tâm đến nạn nhân đó là ai và đã làm được gì khi chúng ta có thể? Chúa Giêsu nói với chúng ta, người cứu nạn nhân trong Tin Mừng hôm nay chính là người anh em của nạn nhân, theo nghĩa sống Tin Mừng. Chuyện tai nạn xảy ra trên đường đi, có lẽ chúng ta ít gặp, nhưng những trường hợp tương tự, những người chung quanh cần đến chúng ta thì rất nhiều. Dẫn một bà cụ qua đường, đẩy phụ một chiếc xe chở nặng lên dốc khi được kêu giúp, nâng một chiếc xe chở nặng bị té đổ, hay hàng xóm nhờ chút việc. Chúng ta đã làm gì, đã ứng xử giống ai trong ba nhân vật của bài Tin Mừng?

Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta biết sống Tin Mừng ngay trong đời sống thường ngày, biết sống luật yêu thương cụ thể với những người chung quanh, với những người ngay trong gia đình mình và với những người trong cộng đoàn chúng ta và tất cả những người cần đến chúng ta cứu giúp.

 

Bài trướcLỜI SỐNG (Thứ Bảy, Tuần 14 TN)
Bài tiếp theoLỜI SỐNG (Chúa Nhật 15 TN – C)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

The reCAPTCHA verification period has expired. Please reload the page.