Vài nét về Thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud và ý nghĩa của nó trong đời sống cá nhân

1
18687

Tu sĩ Giuse Nguyễn Công Lai. SVD

 

  • Mở đầu:

      Phân tâm học của Sigmund Freud có một ý nghĩa lớn đối với những ai muốn tìm hiểu các hiện tượng tâm lí của con người, nhất là vô thức. Có thể nói, S.Freud đã mở ra cho các nhà tâm lí một hướng đi mới, đặt một nền tảng mới khi nghiên cứu về con người dưới cái nhìn tâm lí.

      Khi đối chiếu với học thuyết phân tâm của Freud, tôi nhận thấy có nhiều điểm trong tâm lí của bản thân trùng khớp với những gì mà Freud đã trình bày. Tuy nhiên, còn nhiều điểm khác của Freud đưa ra khiến tôi có chút băn khoăn. Vì thế tôi muốn đi vào tìm hiểu những nét chính yếu về phân tâm học, qua đó muốn nói lên vài cảm nghĩ của bản thân thông qua học thuyết này.

  • Nội dung:

I. Vài nét về cuộc đời của Sigmund Freud

Sigmund Freud (1856 -1939), sinh ở Freiburg (một thị xã  nhỏ ở Moravia, hiện nay là phần thuộc cộng hoà Czech) và mất tại London, là cha đẻ của phân tâm cổ điển. Cha ông là một thợ máy  người  Do Thái, một người khắc nghiệt và gia trưởng. Thuở nhỏ đối với cha Freud có thái độ pha lẫn sợ hãi và yêu mến. Trái ngược với cha, mẹ Freud là người phụ nữ dịu dàng chu đáo vì vậy ông luôn cảm thấy có sự gắn bó mật thiết với mẹ. Khi còn đi học ông luôn là học sinh xuất sắc, tốt nghiệp phổ thông loại ưu.

Freud theo học trường y khoa, chuyên về thần kinh học và đã học một năm tại Paris với Jean-Martin Charcot. Ông chịu ảnh hưởng bởi Ambroise-August Liebault và Hippolyte-Marie Bernheim, cả hai đều dạy ông thôi miên khi ông ở Pháp. Sau khi học tập ở Pháp, Freud quay trở về Vienna và bắt đầu công việc lâm sàng với những bệnh nhân Hysteria. Vào khoảng từ năm 1887 đến 1897, công việc của ông với những bệnh nhân này dẫn đến việc phát triển phân tâm học.

II. Học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud

  1. Vô thức

Trước và cùng thời với S. Freud, các nhà triết học, xã hội học, tâm lí học đã chia những hiện tượng tinh thần làm ba loại với những đặc điểm khác nhau: vô thức, tiềm thức, ý thức. Freud không bác bỏ cách phân loại như vậy, nhưng ông có cách phân loại theo yêu cầu riêng của phân tâm học như sau: vô thức, tiền ý thức, ý thức.

Bởi thế, học thuyết phân tâm học được xây dựng trên khái niệm vô thức. Freud quan niệm: “Tất cả các hiện tượng tâm thần của con người về bản chất là hiện tượng vô thức. Vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lí của con người. Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tuỳ theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo những qui luật khác hẳn với ý thức”.[1]

Để hiểu về vô thức ta cần hiểu về ý thức và tiềm ý thức. Ý thức là lớp ở trên, là những suy nghĩ và nhận thức mà ta biết rất minh bạch. Còn tiềm ý thức về đặc điểm có vẻ như không khác với tiềm thức nhưng vai trò của chúng lại có phần nào thay đổi theo yêu cầu riêng của phân tâm học. Có thể hiểu rằng tiềm thức là một hiện tượng tinh thần không còn phụ thuộc vào ý thức nữa nhưng cũng chưa hoàn toàn phụ thuộc vô thức.

Khi đề cập đến vô thức Freud đồng tình với quan niệm cho rằng, vô thức là cái mang tính sinh lí tự nhiên, là cái mang tính bản năng di truyền bẩm sinh từ đời nọ sang đời kia. Tuy nhiên, ông còn cho rằng vô thức ngoài nguồn gốc có tính bẩm do cơ quan sinh lí phát động còn có sự tác động bên ngoài xã hội.

Để thấy rõ hơn ta cần tìm hiểu về cấu trúc nhân cách của Freud. Ông cho rằng nhân cách của cá nhân là cảnh tượng về một cuộc chiến dai dẳng, giữa một bên là những thôi thúc nguyên sơ và không thể chấp nhận được, đang mong muốn được diễn tả, một bên là các lực lượng cố tìm cách từ chối hoặc ngụy trang các thôi thúc đó. Trong trận chiến đó, Freud còn nhận diện các đối thủ, đó là: bản năng vô thức hay là tự ngã (id), bản ngã (ego), và siêu ngã (superego).

Trước hết là tự ngã (id). Tự ngã là cái con người đã có ngay từ lúc sinh ra. Nó chi phối toàn bộ dời sống của con người. Đó cũng là nguồn cung cấp libido. Theo Freud, con người sinh ra với hai xung động bản năng, đóng vai trò làm động cơ thúc đẩy căn bản cho tất cả mọi hành vi. Một là xung năng Eros. Đây là xung động để tồn tại. Xung động này bao gồm nhu cầu ăn uống, giữ ấm, và trên hết là hoạt động tính dục (libido). Và xung năng Thanatos là thôi thúc phá hủy. Mục đích của nó là phá hủy cái khác, nhưng cũng có một khía cạnh tự phá hủy đối với nó.

Còn bản ngã (ego) thì không có lúc sinh ra. Chính bản ngã giúp con người tự chủ trước các tác động bên ngoài. Bản ngã phát triển qua sự tương tác bên ngoài, đồng thời nó sẽ tìm lấy sức mạnh trong siêu ngã.

Vậy siêu ngã là gì? Siêu ngã thể hiện lương tri của chúng ta. Đó là các giá trị đạo đức về đúng, sai mà chủ yếu được thấm dần vào chúng ta từ bố mẹ, thầy cô và xã hội. Bản chất của siêu ngã là lương tâm và cái tôi lý tưởng. Siêu ngã được hình thành thông qua quá trình thưởng và phạt. Siêu ngã khiến chúng ta cảm thấy tội lỗi khi làm một điều sai trái. Cũng chính siêu ngã khiến chúng ta hoàn thiện mình hơn và sống theo những lý tưởng của mình. Siêu ngã tồn tại ở cả ba cấp độ nhưng chủ yếu là vô thức.

Do đó, Freud đã xây dựng mô hình lí thuyết của mình mà ông gọi là mô hình tảng băng. Theo đó, phần trên của tảng băng là ý thức, phần dưới tảng băng theo thứ tự: tiềm ý thức, siêu ngã, cái tôi, vô thức, tự ngã. Và cũng cần thấy rằng, cái tôi (ego) không phải là dạng cố định nhưng nó có thể có mặt ở cả 3 dạng thức (vô thức, tiềm ý thức và ý thức).

Vai trò quan trọng của cái vô thức trong đời sống tâm lí người được Freud làm rõ trong các công trình nghiên cứu về bệnh Hystêri, về giấc mơ và về lý thuyết tính dục cũng như ở nhiều vấn đề khác được đề cập liên quan trong các vấn đề cụ thể của ông.

  1. Libido

Và để thấy rõ hơn về vô thức, chúng ta cần hiểu libido theo Freud là gì. Libido có thể tạm dịch là dục năng – tức xung năng tính dục, là sự khát dục của con người. Freud coi vô thức là bể chứa các xung năng và xung năng tính dục là xung năng quan trọng nhất cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động tâm thần của con người. Libido tồn tại ở 2 dạng là Eros và Thanatos. Theo Freud, libido là bản năng tình dục của con người, chịu tác động theo nguyên tắc khoái lạc (pleasre principle). “Khát vọng tình dục là nhu cầu thỏa mãn một ham muốn mang nội dung tình dục”[2]. Nó là nhu cầu của con người như ăn, uống, ngủ, nghỉ…[3] Libido không chỉ diễn ra trong 5 giai đoạn phát triển nhân cách của trẻ mà còn chi phối suốt cuộc đời con người. Cũng theo Freud, nhờ những thực tại ngăn cản nguyên tắc khoái lạc (Freud gọi là ego) nên con người chỉ thỏa mãn thúc đẩy tình dục khi hội đủ các yếu tố  mà thôi.

  1. Mặc cảm Oedipus:

Vì libido chi phối không những những giai đoạn đầu đời của trẻ mà còn chi phối cả cuộc đời con người nên chúng ta sẽ hiểu cách rõ ràng hơn về quan niệm mặc cảm Oedipus của Freud. Trong quá trình phát triển nhân cách của trẻ, Freud chia 5 giai đoạn: môi miệng, hậu môn, dương vật, tiềm ẩn, cơ quan sinh dục ngoài. Theo đó, mặc cảm Oedipus xuất hiện rõ nhất trong giai đoạn dương vật.

“Vào khoảng tuổi lên 3 trẻ bắt đầu giai đoạn sùng bái dương vật (Phallic stage)”[4]. Đây là một giai đoạn đánh dấu một trong các sắc thái quan trọng nhất của tiến trình phát triển nhân cách theo quan điểm của Freud: đó là xung đột do mặc cảm Oedipus.

Freud tin rằng các trẻ nam phát triển các mối quan tâm tình dục vào mẹ chúng, bắt đầu xem cha chúng như kẻ thù, và ấp ủ ước muốn giết cha – giống như Oedipus đã làm trong bi kịch Hy Lạp cổ đại. Nhưng vì thấy người cha quá uy quyền, trẻ sinh lòng sợ hãi bị trả đũa dưới dạng “lo sợ bị thiến” (Oedipal conflict)[5] . Trẻ lo ngài ông bố sẽ giải quyết cuộc cạnh tranh bằng những biện pháp quyết liệt này. Vì đời sống có sự lo âu không thể chấp nhận được như thế, nên trẻ phải giải quyết theo cách nào đó, qua cơ chế phòng thủ cái tôi gọi là nhận dạng với tác nhân tấn công. Tác động tiềm thức trên nguyên tắc người bố có thể có thái độ thù địch đối với trẻ ít hơn nếu ông ta xem trẻ như một đồng minh. Sau cùng nỗi sợ hãi này mạnh mẽ đến mức đè nén được các khát khao đối với mẹ chúng, và thay vào đó bằng cách đồng hóa (Identification) với người cha, cố bắt chước hành vi của ông càng nhiều càng tốt. Bằng cách này, trẻ đi đến việc tiếp nhận vai trò giới tính của mình, và phải nhận dạng như một nam giới.

Đối với bé gái, tiến trình diễn ra khác biệt hẳn. Freud lập luận rằng  các bé gái bắt đầu thức tỉnh tình dục đối với cha của chúng, tức chúng ao ước có dương vật, ao ước sinh con cho cha, đổ lỗi cho mẹ vì chúng vì mẹ mà chúng thiếu dương vật. Về điểm này, Freud sau này bị lên án vì như thế là ông đã quan niệm nữ giới thấp kém hơn nam giới.[6] Dù vậy, giống như các bé trai, chúng thấy rằng để giải quyết những tình cảm không thể chấp nhận được như thế, chúng phải đồng hóa với bậc cha mẹ đồng giới tính bằng cách cư xử giống mẹ và chấp nhận giá trị và thái độ của bà mẹ. Theo cách này, hiện tượng đồng hóa với bà mẹ của các bé gái đã hoàn tất.

Phân tâm học còn cho chúng ta biết rằng Oedipus là mặc cảm xuất hiện cả trẻ nam và trẻ nữ. Riêng ở trẻ nữ, phân tâm học gọi là mặc cảm electra. Freud và các nhà phân tâm học sau này không cho chúng ta biết nhiều về mặc cảm này chỉ biết rằng nó cũng tương tự như mặc cảm Oedipus. Vào thời điểm này, các nhà phân tâm nói rằng mặc cảm Oedipus đã được giải quyết…

  1. Giấc mơ

      Tiếp đến, chúng ta hãy tìm hiểu giấc mơ trong học thuyết phân tâm của Freud. Vào năm 1901 Freud đã đưa ra lí thuyết về giấc mơ. Vì Freud coi tiềm thức của con người cơ bản tập trung ở năng lượng tình dục nên lí thuyết về giấc mơ của ông cũng được giải thích theo hướng đó. Ông cho rằng, con người trong vô thức luôn mong ước một khát khao, và để tránh những mối đe dọa từ bên ngoài nên con người đã đưa mong muốn đó vào giấc mơ. “Ông gọi các hạng mục và sự kiện trong giâc mơ là nội dung hiện trong khi ý nghĩa ẩn các giấc mơ là nội dung ẩn.”[7] Giấc mơ chỉ xuất hiện trong giấc ngủ, và phân tâm học coi giấc ngủ “chính là biểu hiện của những gì còn sót lại trong ngày, trong đời sống bên ngoài vào những lúc thức”.[8]

  1. Sự dồn nén

Vậy phải chăng giấc mơ là một trong những biểu hiện nói về sự dồn nén của con người? Theo Freud, trong đời sống con người thường gặp phải chứng lo âu (anxiety), là một cảm giác gây căng thẳng và mất thăng bằng trong cuộc sống. Để giải quyết vấn đề này, tâm lí con người đã tạo nên cơ chế phòng thủ để đối phó với nó. Cơ chế phòng thủ bào gồm: sự dồn nén(repression), sự phóng ngoại nội tâm (projection), sự chối bỏ (denial),  biện pháp hồi qui (regression), sự hợp lí hóa (reaction Formation), sự phá bỏ (undoing), sự thăng hoa (sublimation), sự mơ mộng (fantasy)[9].

Như vậy, sự dồn nén (repression) là một trong 8 cơ chế phòng thủ theo Freud. Khi một nhu cầu bản năng không thực hiện được hay không được chấp nhận nó dẽ được đẩy vào vô thức. “Dồn nén là một phương thức trực tiếp nhất nhằm giải quyết tình trạng lo âu, thay vì phải giải quyết một xung động gây ra tình tạng lo âu ở bình diện ý thức, người ta chỉ việc phớt lờ nó đi”.[10] Chẳng hạn một cậu bé căm ghét cha mình, nó bị dồn nén, đến lúc đi học nó gặp những ông thầy khó tính và kết quả còn tồi tệ hơn. Thế là nó sẽ gia nhập cảnh sát để có thể ra những mệnh lệnh và bắt người khác phải thực hiện mà không có khiếu nại nào. Đây là một cơ chế rất thường thấy trong đời sống con người. Nó có ảnh hưởng rất nhiều trong quá trình phát triển nhân cách…

III. Đánh giá học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud

Sau khi tìm hiểu những nét chính yếu trong phân tâm học của Freud, người viết  xin nói lên vài ưu điểm và hạn chế về học thuyết này.

  1. Ưu điểm

Về ưu điểm, phân tâm học của S.Freud là chìa khóa cho bộ môn tâm lí phát triển. Freud đã đưa ra một lí thuyết trọn vẹn về nhân cách, nó đầy dủ và cho phép giải quyết nhiều vấn dề tâm lý có ứng dụng thực tế mà đến nay vẫn còn được ứng dụng.

Freud còn được đánh giá cao khi là người đã khám phá ra một lĩnh vực nghiên cứu mới của tâm lý học: vô thức. Ông có công lớn trong việc nghiên cứu động lực hành vi vủa con người là động cơ vô thức, và đưa ra những khái niệm: Sự dồn nén, cơ chế tự vệ, sự đồng nhất hoá, xung đột, sự xã hội hoá…Vấn đề các động cơ bị che giấu của bệnh nhân trong lâm sàng và ý nghĩa của nhân tố này đối với các nhà lâm sàng. Ông cũng là người đưa ra một số cơ chế tâm lý như cơ chế tự vệ, dồn nén, các mặc cảm, đồng nhất hóa, các giai đoạn phát triển nhân cách…

  1. Hạn chế

Tuy vậy, phân tâm của Freud cũng có những hạn chế của nó. Do quá nhấn mạnh đến mặt vô thức trong con người, ông đã không thấy được mặt bản chất trong ý thức con người, không thấy được bản chất xã hội – lịch sử của các hiện tượng tâm lý người. Do đó, con người trong phân tâm học là con người cơ thể, con người sinh vật bị phân ly ra nhiều mảng, con người với những mong muốn chủ yếu là thỏa mãn các đam mê tính dục, đối lập với xã hội.

Do quá nhấn mạnh đến mặt vô thức trong con người, S.Freud đã ko thấy được mặt bản chất trong ý thức con người, không thấy được bản chất xã hội – lịch sử của các hiện tượng tâm lý người. Cho nên, vai trò của ý thức không được chú trọng, không xem ý thức là đối tượng của tâm lý học.

IV. Thuyết phân tâm học của Sigmund Freud đối với bản thân

  1. Những biểu hiện của bản thân đối chiếu với thuyết phân tâm của Freud

Sau khi đã sơ lược những nét chính về thuyết phân tâm của Freud, giờ đây, tôi xin được đối chiếu về những biểu hiện của bản thân qua học thuyết này.

Có thể nói, trong đời sống hằng ngày của mình, khi tôi đối chiếu với học thuyết phân tâm sao thấy giống quá. Trước hết là tầng sâu vô thức. Đây là biểu hiện tính cách thật nhất của tôi. Chẳng hạn, tôi có tính cách là hay nóng giận, hay phản ứng gay gắt trước những gì không vừa ý mình hoặc trước những ai xúc phạm đến tôi. Lúc đầu, sự phản ứng này rất quyết liệt và mạnh mẽ. Nhưng rồi cùng với thời gian, những phản ứng này đã gây nhiều rắt rối cho tôi như mất dần bạn bè, bị mọi người xa lánh. Thêm vào đó, khi vào dòng tu, tính cách này đã làm tôi gặp rất nhiều khó khăn, bị anh em “bỏ rơi”, bị Bề trên nhắc nhở… Thế nên, dần dần, với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của mọi người, tôi đã thuyên giảm được tính nóng này. Điều này có nghĩa là tính nóng nảy của tôi đã trôi vào vô thức vì ý thức phải giảm tính nóng đã lấn át. Như thế, trong vô thức, tính nóng của tôi được xem là tự ngã, là cái tôi luôn ẩn chứa trong con người của mình. Nhưng với hoàn cảnh, với sự ý thức của bản thân, với sự rèn luyện tôi đã vươn lên để không bị tính cách này ảnh hưởng đến cuộc sống của mình. Đây được xem là bản ngã. Nhưng cao hơn, tôi quyết tâm sửa đổi tính cách để phù hợp hơn với đời sống tu trì, để có thể đem niềm vui, sự trìu mến đến cho những người mà tôi sẽ phục vụ. Đây được xem là siêu ngã. Tuy nhiên, không phải lúc nào tôi cũng yên ổn trong những cái được xem là bản ngã hay siêu ngã, tức là kiểm soát và kìm hãm tính nóng nảy của mình mà nhiều khi, tính nóng bộc phát một cách vô thức, khiến tôi không thể làm chủ con người mình. Ví như khi chơi đá banh, tôi rất dễ nổi nóng đến mức tôi không biết tại sao lúc đó tôi lại hành động như thế nữa. Phải chăng, trong vô thức, tính nóng của tôi vẫn còn đó. Nó chỉ tạm thời lắng xuống chứ không mất đi. Và bởi vì hàng ngày, trong hoạt động ý thức, tôi đã tự chủ nên nó không bộc phát nhưng khi bản ngã hay siêu ngã không được thể hiện thì tự ngã nơi tôi đã trổi lên?

Và rồi không chỉ có tính cách của tôi có sự xung đột giữa tự ngã, bản ngã và siêu ngã mà còn rất nhiều biểu hiện khác trong đời sống của mình, trong tôi thường xuyên có sự giằng co này. Một bên là bản tính muốn hành động theo sở thích, ý muốn của mình; một đàng lại có sự giằng co của những luật lệ, những qui tắc đạo đức, những mối liên hệ, những hậu quả… khiến tôi phải tự kiềm chế. Bình thường, tôi có thể hành động theo những qui tắc, những chuẩn mực, nhưng đôi khi tự ngã, tức vô thức trong tôi lại nổi lên. Thế nên, đời sống của tôi là một sự giằng co không ngừng giữa tự ngã, bản ngã và siêu ngã, trong đó, bản năng vô thức dường như đã chi phối trong mọi lối hành xử của mình.

Trong phần vô thức tôi đã có nói đến libido theo phân tâm. Chính libido đã chi phối đến nhiều hoạt động của con người. Với tôi, libido cũng là vấn đề khiến tôi băn khoăn nhất. Tôi đang sống trong đời tu, vì thế, khi bàn đến libido, lại liên quan đến bản thân tôi có phần hơi ngại. Thế nhưng, nói như một học giả nào đó rằng, con người hãy sống thật với mình, và với mong muốn tìm hiểu một cách sâu rộng hơn về libido theo Freud nên tôi không ngần ngại khi bàn đến nó. Trong tôi, xung năng tính dục diễn ra một cách mạnh mẽ khiến đôi lúc tôi phải chạy trốn nó. Nói như Freud, libido như một nhu cầu ăn uống, ngủ, nghỉ của con người, mà những nhu cầu đó đối với con người không thể thiếu thì nhu cầu tính dục là lẽ thường tình. Khi nghiên cứu đến vấn đề này tôi có phần hiểu hơn về những xung đột trong con người mình. Và như thế, những xung năng tính dục của tôi đâu phải là xấu? Trong thông điệp Deus caritas est, đức Benêditô XVI cũng đã nói đến tình yêu Eros nơi Đức Giêsu. Chính trong Đức Giêsu, tình yêu Eros, vốn bị xem là xấu vì là tình yêu mang tính chiếm hữu, mang tính tính dục, được nâng lên một mức cao hơn. Nó là ân ban của Thiên Chúa cho nhân loại. Tuy nhiên, do những qui tắc đạo đức chi phối, nhất là những nhân đức trong đời tu làm cho tôi phải kìm nén libido của mình. Nói cách tích cực hơn, tôi đã không để libido chi phối con người tôi như một xung năng “bắt buộc”, nghĩa là tôi có thể điều khiển nó.

Tiếp đến, tôi xin được đề cập đến những mặc cảm Oedipus của bản thân. Có lẽ trong tôi đã có những biểu hiện này nhưng chỉ khi đọc đến phân tâm tôi mới có dịp để nhìn lại. Khi còn bé, tôi rất sùng mộ bố, xem bố như thần tượng của mình. Song song đó, tôi cũng rất yêu mến mẹ. Sự yêu mến này có lẽ đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc lựa chọn người yêu thời tôi còn là sinh viên. Lúc đó, tôi đã thích 2 cô gái… Thế nhưng, cuối cùng, tôi đã chọn cô gái có nét giống mẹ tôi nhất, mặc dù tôi yêu cô gái kia hơn! Phải chăng theo phân tâm, tôi đã có mặc cảm Oedipus? Và phải chăng mặc cảm Oedipus đã chi phối đến những chọn lựa của tôi? Có lẽ có và cũng chỉ có thể là cảm giác thôi.

Tạm thời gác lại mặc cảm Oedipus (tôi sẽ nói rõ hơn trong phần ý nghĩa), tôi xin tiếp tục nói đến một biểu hiện khác của bản thân theo phân tâm học, đó là giấc mơ. Có thể nói, giấc mơ dường như là những biểu hiện hàng ngày trong đời sống của tôi. Chẳng hạn, ban ngày, tôi đá banh, hô hào nhiều, khi đi ngủ tôi thường hay la hét. Hay, ban ngày, tôi giận ai, trong lúc ngủ mơ, những hành động ban ngày lại nổi lên như cãi cọ, đôi co, đánh đấm. Thậm chí, nếu ban ngày tôi thích một cô gái nào đó, hay xem hình ảnh một cô gái đẹp nào đó thì lúc mơ, hình ảnh cô gái đó lại hiện lên… Theo Freud, giấc mơ là biểu hiện của những gì còn sót lại ban ngày, thì điều này quả thực đúng với tôi. Đây là những biểu hiện tôi rất thường gặp trong cuộc sống của mình.

Để thấy rõ hơn về điều này, tôi xin được bàn đến sự dồn nén theo Freud. Phải chăng, những gì diễn ra ban ngày, nhất là những gì diễn ra mà trong tầng ý thức khiến tôi không thể thực hiện, thì trong giấc mơ, tôi đã thực hiện nó? Như đã nói ở trên, khi ban ngày tôi ngắm hoặc thích một cô gái nào đó nhưng tôi không thể có những biểu hiện thích cô ta vì nhiều lí do, nó dồn nén, đưa vào giấc mơ, thậm chí không chỉ là sự nhớ lại hình cảnh cô gái mà còn có những hành vi âu yếm…!

Sự dồn nén là một trong 8 cơ chế phòng vệ rất nổi tiếng của Freud, và khi tôi qui xét bản thân vào những cơ chế này, nhất là sự dồn nén, tôi thấy có phần đúng như thuyết của ông. Bố tôi là người nóng tính và rất coi trọng thành quả việc học, thế nên tôi bị áp lực học tập rất lớn. Khi vào những môi trường học cao hơn, trước những qui định, những đòi hỏi về thành tích, bằng cấp… khiến cho tôi lúc nào cũng căng thẳng. Thế nên, tôi đã chọn ngành sư phạm để có thể đi dạy, để có thể kiểm tra bài cũ người khác… Phải chăng chính những dồn nén đó đã tác động đến những sự lựa chọn nghề nghiệp của tôi?…

Như thế, khi dùng học thuyết phân tâm của Freud để đối chiếu với bản thân mình, tôi thấy có nhiều điểm trùng hợp. Những diễn biến tâm lí của tôi, tôi có cảm tưởng, dường như Freud đã nói hết. Tuy nhiên, không phải tất cả những gì Freud đề cập, và trong tôi diễn ra như thế thì hoàn toàn đúng với quan điểm của Freud. Thuyết phân tâm của Freud vừa có mặt tích cực với tôi nhưng cũng có nhiều điều tôi cảm thấy là một hạn chế.

  1. Ý nghĩa thuyết phân tâm học của Sigmund Freud đối với bản thân

a. Mặt tích cực

Trước hết, tôi xin được nói lên mặt tích cực. Thuyết phân tâm học đã cho tôi một cái nhìn rõ, sâu và cụ thể hơn những biểu hiện tâm lí của bản thân. Tôi có thể giải thích các hiện tượng tâm lí của mình, cũng như có thể hiểu được tâm lí người khác dưới cái nhìn phân tâm. Như vấn đề tính dục, libido, tôi không còn “sợ” khi có những biểu hiện này, vì đó là những nhu cầu bản năng của con người, mà một người phát triển bình thường phải có và phải diễn ra. Nhưng không có nghĩa là tôi sẽ để cho nhu cầu bản năng chi phối mọi hoạt động đời sống của mình mà tôi phải biết điều chỉnh, tức phải phát triển cái bản ngã, nhất là siêu ngã lên cao để có thể làm chủ libido. Như thế, vai trò của ý thức trong đời sống rất quan trọng. Và muốn thế, tôi phải không ngừng trau dồi nhân cách bản thân, rèn luyện mình để có thể làm chủ và điều khiển, điều chỉnh các nhu cầu vô thức của mình.

Trước đây, tôi thường lo lắng về những giấc mơ, nhất là những giấc mơ xấu. Những qua phân tâm, tôi hiểu rằng, đó là những biểu hiện bình thường của con người. Những gì diễn ra trong lúc mơ chỉ là biểu hiện của những gì đã có trong ngày mà tôi chưa thể thực hiện nó. Nói như thế không có nghĩa là tôi để cho giấc mơ diễn ra một cách thường xuyên và bình thường, nhất là những giấc mơ xấu, những giấc mơ thể hiện ước muốn xấu, nhưng tôi phải biết điều chỉnh nó. Nghĩa là hàng ngày, tôi phải có đời sống quân bình, không gây cho mình những dồn nén… Và như thế tôi sẽ có một giấc ngủ ngon và một cuộc sống an bình.

Để có cuộc sống an bình hơn tôi cũng cần rèn luyện tính cách, nhất là cải thiện tính cách nóng nảy. Trong vô thức, đôi khi tính nóng có thể bộc phát, thế nên tôi không nên quá buồn, quá dằn vặt vì những biểu hiện của mình mà điều quan trọng là tôi phải phát triển cái bản ngã, nhất là siêu ngã, nghĩa là để cho chiều sâu ý thức điều khiển con người mình…

b. Mặt tiêu cực

Mặt khác, thuyết phân tâm ngoài ý nghĩa tích cực nó cũng gây cho tôi nhiều hạn chế nhất định. Chẳng hạn như vấn đề mặc cảm Oedipus. Tình cảm của tôi với bố mẹ là tình yêu thương thực sự của con cái với cha mẹ chứ đâu phải là mặc cảm? Nếu lấy mặc cảm Oedipus để xét đến quan hệ với bố mẹ tôi thấy có phần hơi nặng nề  và nhiều khi làm mất tính thiêng liêng của tình cảm con cái với phụ mẫu.

Thêm vào đó, không phải lúc nào tính dục cũng chi phối con người, mà còn nhiều điều cao cả hơn như ước mong  vươn lên, ước mong phấn đấu để bù đắp những thiếu sót (theo Adler), hay tự do chi phối những hoạt động của con người (theo Erich Fronm)… Nếu chỉ lấy libido làm thước đo nhiều khi khiến tôi rơi vào những trạng thái căng thẳng, sợ sệt, nhất là những lo âu trong đời tu.

Cuối cùng, sự phát triển nghề nghiệp, lí tưởng của tôi là nhu cầu và ý thích bản thân chứ đâu phải do sự dồn nén chi phối. Nói như Freud thì việc tôi đi học sư phạm, việc tôi đi tu, làm cha là do sự dồn nén từ lúc nhỏ, muốn làm người điều khiển người khác vì lúc nhỏ tôi đã bị điều khiển. Như thế, cuộc đời tôi, lí tưởng của tôi, sự nghiệp của tôi là một mớ sự dồn nén thôi sao?…

Nhưng dù cả mặt tích cực hay mặt hạn chế, qua học thuyết phân tâm của Freud đã để lại trong tôi nhiều bài học quí giá và nhiều ý nghĩa đích thực trong đời sống tâm lí của mình, cũng như là cơ sở để tôi có thể hiểu đôi chút tâm lí của người khác. Đây là ý nghĩa quan trọng nhất mà tôi học được qua học thuyết của Freud, vì nó sẽ giúp tôi rất nhiều trong những thời gian sắp tới, trong tư cách sẽ là người hướng dẫn và đồng hành với người khác.

  • Kết luận:

Nói tóm lại, học thuyết phân tâm của S.Freud ra đời cách đây cả thế kỉ, thế nhưng những đóng góp của nó cho tâm lí học, nhất là trong tâm lí học trị liệu lâm sàng vẫn còn giá trị. Những công trình nghiên cứu của Freud đã để lại và mở ra cho các nhà tâm lí những nền tảng căn bản trong nghiên cứu vô thức của con người.

Với tôi, qua học thuyết phân tâm, tôi đã học hỏi được rất nhiều điều. Khi đối chiếu học thuyết của ông với các biểu hiện tâm lí của bản thân, tôi thấy có nhiều điểm trùng hợp, nhưng bên cạnh đó, cũng có nhiều điểm tôi không đồng quan điểm với học thuyết của Freud. Nhưng co dù là tích cực hay tiêu cực, học thuyết của Freud cũng đã cho tôi nhiều ý nghĩa lớn, nhiều bài học lớn. Nghiên cứu phân tâm học không chỉ để tôi thấy có gì trùng hợp hay phản bác lại những quan điểm bất đồng nhưng là để hiểu rõ hơn con người của mình dưới một học thuyết tâm lí, đồng thời là cơ sở để tôi có thể thực hiện những sứ vụ mới trong tương lai.

Cuối cùng, khi nghiên cứu về phân tâm học của Frued, tôi sẽ có cái nhìn cụ thể hơn về một học thuyết tâm lí, nhất là khía cạnh vô thức. Nhờ đó, tôi sẽ dễ dàng để so sánh, đối chiếu với các học thuyết tâm lí khác trên cùng một lãnh vực hay với nhiều lĩnh vực khác nhau. Và như thế, tôi sẽ có một cái nhìn tổng quan hơn về lĩnh vực tâm lí. Đây là điều tôi cần phải có và phải đạt đến nếu tôi muốn có một kiến thức tối thiểu về tâm lí trước khi đi đến để phục vụ mọi người trong vai trò và sứ vụ của mình.

Tài liệu tham khảo

Thư mục sách:

Phạm Minh Lăng. Frued và phân tâm học. Hà Nội: VH-TT, 2004.

S.Freud. Phân tâm học nhập môn. Sài Gòn: Khai Trí, 1970.

Roberts. Nguyễn Đức Minh-Hồ Kim Chung (biên dịch), Tâm lí học căn bản. Hà Nội: VH-TT, 2004.

Robert S. Feldman. Những Điều Trọng Yếu Trong Tâm Lý Học. Thống Kê, 2003.

Stephen Worchel – Wayne Shebilsue. Tâm lý học – nguyên lý và ứng dụng. Lao Động – Xã Hội, 2007.

Trang mạng:

Bênêditô XVI. “Deus caritas est”. http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/encyclicals/documents/hf_ben-xvi_enc_20051225_deus-caritas-est_en.html / Cập nhật ngày 21-3-2013.

Nguyễn Ngọc Phú. “Tâm Lý Học và Bạn”. http://www.tamlyhoc.net/diendan/showthread.php?tid=1542/ Cập nhật ngày 25-02-2013.

[1] Xc.  Nguyễn Ngọc Phú, “Tâm lí học và bạn,” http://www.tamlyhoc.net/diendan/showthread.php?tid=1542) / Cập nhật ngày25/02/2013.

[2] Phạm Minh Lăng, Frued và phân tâm học, Hà Nội: VH-TT, 2004, tr. 183.

[3] Xc. Robert S. Feldman, Những Điều Trọng Yếu Trong Tâm Lý Học, Hà Nội: Thống Kê, 2003, tr. 475.

[4] Roberts, Nguyễn Đức Minh-Hồ Kim Chung (biên dịch), Tâm lí học căn bản, Hà Nội: VH-TT, 2004, tr. 477.

[5] Roberts, Nguyễn Đức Minh-Hồ Kim Chung (biên dịch), Sđd, tr. 477.

[6] Roberts, Nguyễn Đức Minh-Hồ Kim Chung (biên dịch), Sđd, tr. 477

[7] Roberts, Nguyễn Đức Minh-Hồ Kim Chung (biên dịch), Phân tâm học nhập môn, Sài Gòn: Khai Trí, 1970 Sđd, tr. 409.

[8] Xc. Phạm Minh Lăng, Frued và phân tâm học, Hà Nội: VH-TT, 2004, tr. 86.

[9] Xc. Robert S. Feldman, Những Điều Trọng Yếu Trong Tâm Lý Học, Hà Nội: Thống Kê, 2003, tr. 478.

[10] Robert S. Feldman, Những Điều Trọng Yếu Trong Tâm Lý Học, Hà Nội: Thống Kê, 2003, tr. 479.

 

Bài trướcĐức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, nguyên Giám mục Giáo phận Nha Trang
Bài tiếp theoMùa Thường Niên – Tuần VII – Năm A

1 BÌNH LUẬN

  1. “Vào thời điểm này, các nhà phân tâm nói rằng mặc cảm Oedipus đã được giải quyết…” nó đã đc giải quyết a mặc cảm này vào thời của Singmund Freud cách tôi nghĩ ít nhất có một bộ phận k nhỏ nghĩ như cách SF nói vì thời đấy dân họ còn k có phân biệt giới tính như đồng tính dị tính… như bh tóm lại họ bài xích thậm chí ghê tởm mối quan hệ nam-nữ mà thời nay ta cho là bth này nên mặc cảm Oedipus là một cách giải thích cho những người mặc dù sống trong xã hội mà ai cũng kinh tởm mối quan hệ nam nữ như vậy nhưng họ lại vẫn yêu những người khác giới vs mình dc bạn có thấy bth k? Nên từ đó SF ms tìm ra cái mặc cảm Oedipus này
    Sau thời kỳ ta k biết tính dục là gì ấy lại chuyển sang tky ta đi phân biệt giữa sinh sản và không sinh sản vì để duy trì đời sau mà trc đấy có một lượng người nhất định có mặc cảm Oedipus nên đã tạo ra suy nghĩ người khác giới như nam nữ yêu nhau của ngày nay là chuyện đương nhiên này
    Tóm lại lập luận của SF vào thời bấy giờ thì khẳng định rằng ít nhất có một bộ phận người mang mặc cảm này nên ông mới có thể nghiên cứu và trình bày ra được như vậy nhưng vào xã hội ngày nay là do bị ảnh hưởng từ những điều nam nữ yêu nhau là chuyện đương nhiên từ nhưng năm 1934 trở lại đây nên ms thấy điều ông nói là vô lý hay k đúng lắm… chứ còn trc đó yêu như thế là cả 1 sự bất thường đúng như mặc cảm Oedipus ông nói vậy
    Thời bh bạn và tôi sống thì sớm đã đồng hoá vs tư tưởng yêu người khác giới là chuyện đương nhiên rồi nên chỉ cực ít người cực ít ms xuất hiện mặc cảm Oedipus này nên SF và các nhà phân tâm khác ms nói mặc cảm oedipus này đã giải quyết đc rồi còn tại sao t nói cực ít k phải vì đoán mà t đã gặp người như thế rồi

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

The reCAPTCHA verification period has expired. Please reload the page.