Tu sĩ Giuse Nguyễn Đình Trường
– Học Viện Ngôi Lời
Tha hoá (aliénation) là một tình trạng mà triết học hiện sinh không ngừng lên tiếng cảnh tỉnh con người, bởi lẽ, nó đụng chạm đến nhân sinh. Triết học hiện sinh, theo nghĩa chặt, luôn muốn kéo con người trở lại với cái chính mình, nghĩa là trở về với chính căn tính của mình. Lý do phát xuất từ những hiện tượng con người đánh mất mình qua nhiều phương diện. Những triết gia Soren Kierkegaard hay Jean-Paul Sartre … đều nói đến con người sống trong tình trạng “giả dối” không dám đối diện với tự do và trách nhiệm trong hiện sinh của mình. Và khi đánh mất mình, con người tìm cách phóng chiếu bản thân lên tha nhân, lên các cơ cấu tổ chức như tôn giáo… thậm chí là lên cả Thiên Chúa. Những biểu hiện đó được gọi chung là hiện tượng vong thân: Con người gửi gắm cái tôi, cuộc đời mình lên một sự vật khác.
- Thoáng nhìn về tình trạng tha hoá
Các triết gia hiện sinh cho thấy một nỗi lo lớn của con người hiện đại là tình trạng “tha hoá” – khi ta đánh mất chính mình vì chạy theo những chuẩn mực bề ngoài hoặc những phán xét hời hợt. Con người vong thân trong tương quan với tha nhân, trong tương quan với chính mình và cả trong tương quan với Thiên Chúa.
Triết gia Soren Kierkegaard gọi đó là sống trong “đám đông”, nơi con người trốn tránh sự thật về bản thân. Còn M. Heidegger nói về tình trạng “sống không đích thực”, khi ta để mình bị cuốn trôi trong những lo toan tầm thường, sống hời hợt, không còn đối diện với chính sự hiện hữu hữu hạn của mình. Trong khi đó, triết gia J.P.Sartre nhấn mạnh đến tình trạng con người dễ rơi vào “sự tự lừa dối” (mauvaise foi), chạy trốn tự do và trách nhiệm của mình. Tóm lại, tha hóa là khi con người không còn sống đúng căn tính và ơn gọi sâu xa của mình. Điều đó cũng khiến ta đánh mất cơ hội để bước vào trong tương quan chân thành với tha nhân.[1] Sự tha hóa diễn ra với nhiều hình thức, chung quy sự tha hóa quy chiếu đến việc các cá nhân bị tách ra khỏi bản ngã đích thực của họ, bản tính của họ, và ý thức của họ. Đấy là trạng thái một người nào đó mất đi tính toàn vẹn và sự độc lập cá nhân và trở nên xa lạ với chính mình.[2] Đánh mất cội nguồn của mình là con người được sinh ra có trái tim và khối óc để ta mưu ích cho đời.
Vong thân là một trong những hệ lụy của tình trạng tha hoá. Khi con người đánh mất chính mình, trốn tránh tự do và trách nhiệm, con người tìm cách “neo đậu” đời mình vào một đối thể (tha nhân, tổ chức…). Chúng ta có thể bắt gặp điều đó ngay trong chính hành trình nhân sinh, có những người nỗ lực đi tìm những giá trị cao đẹp nhưng rồi lại bỏ cuộc giữa đường và buông trôi theo dòng đời: sống vật vờ cho qua ngày đoạn tháng và lạc lối biến mình thành một ai khác mà không phải là tôi. Lắm lúc, chúng ta cảm thấy nhiều phen kinh ngạc đến “sợ hãi” khi nhận ra rằng những người mình quen biết có vẻ không còn như xưa nữa, hoặc giật mình khi thấy chính mình cũng không còn là mình nữa, và thậm chí không biết mình đang là ai và như thế nào, hay tắt một lời ta thấy sự tha hoá và vong thân nơi tha nhân và nơi chính bản thân mình. Điều đó lắm lúc khiến ta phải giật mình!
- Thoáng nhìn về tình trạng tha hoá nơi người Kitô hữu
Tình trạng tha hoá và hệ luỵ vong thân không dừng lại ở bình diện xã hội mà còn xuất hiện những dấu vết ngay trong lãnh vực tôn giáo, nơi những con người tôn giáo. Như đã nói ở trên, tha hoá được hiểu là tình trạng đánh mất chính mình. Chính vì đó, người Kitô hữu rơi vào tình trạng “tha hoá”, nghĩa là đánh mất định hướng cuộc đời và ơn gọi Kitô hữu của mình. Một vài thoáng nhìn về thực trạng sống đạo ngày nay, mà thiết nghĩ, nó dính bén đến cái gọi là tình trạng tha hóa.
- a) Sống đạo cách hình thức: nhiều Kitô hữu giữ đạo theo thói quen, chỉ giữ luật, nhưng không sống tương quan tình yêu với Thiên Chúa và tha nhân. Ngay cả, những thực hành đạo đức hay những nỗ lực thực thi việc bác ái đâu đó cũng nhuốm sắc màu phô trương và tự mãn, mà thiếu đi chiều sâu cần có.
- b) Mất định hướng về những ý nghĩa và giá trị: nhiều tín hữu không còn tìm thấy ý nghĩa nơi việc cầu nguyện, trong phụng vụ, hội đoàn hay trong sinh hoạt nơi cộng đoàn giáo xứ, dẫn đến việc rơi vào sự trống rỗng tâm linh.
- c) Và sau cùng là tình trạng sống đức tin “thuần tuý”, nghĩa là đức tin bị tách rời khỏi đời sống xã hội và bối cảnh văn hóa. Hay nói cách khác, khi đánh mất đi căn tính Kitô hữu của mình, người Kitô hữu sống đức tin không bám vào hiện sinh, đức tin tồn tại trơ trọi, không dính líu đến phận người, tựa như một thứ đức tin chết mà thánh Giacôbê đã từng nói: “Đức tin không có việc làm” (x. Gc 2, 17). Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI trong Thông điệp Deus Caritas Est (2005) đã nhấn mạnh đến một thứ đức tin sống động nơi những người mang danh là Kitô hữu, khi ngài nói rằng: “Chúng tôi đã tin vào tình yêu của Thiên Chúa”, Kitô hữu dùng những lời này để diễn tả chọn lựa cơ bản của đời mình. Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của chọn lựa đạo đức hay một lý tưởng cao đẹp, nhưng là trải qua một biến cố, gặp gỡ một nhân vật có khả năng mở đời mình ra cho một chân trời mới và một hướng sống rõ rệt” (số 1). Thật vậy, đức tin diễn tả căn tính của người môn đệ phải là một thứ đức tin gắn liền với việc sống các mối tương quan. Đó cũng chính là phương thế hữu hiệu để giúp người Kitô hữu thoát khỏi tình trạng tha hoá cũng như vong thân.
Quả vậy, tình trạng tha hóa nơi Kitô hữu, chung quy, được phơi bày qua việc sống đạo hình thức, mất ý thức những giá trị tôn giáo, chạy theo thế gian và biến đức tin thành ý niệm trừu tượng. Cũng trong Thông điệp Deus Caritas Est (2005), Đức cố Giáo Hoàng Bênêđictô XVI cảnh báo nguy cơ biến Kitô giáo thành một hệ thống ý tưởng hoặc hoạt động xã hội, thay vì một tương quan tình yêu sống động với Đức Kitô (số 28 và 29). Ngài nhiều lần nhắc đến hiện tượng “tục hóa” nơi các Kitô hữu, nghĩa là sống như người không có niềm tin, để văn hóa duy tiêu thụ, duy khoa học – kỹ thuật định hình cuộc sống, dẫn đến khủng hoảng căn tính Kitô hữu.
- Thoáng nhìn về tình trạng tha hoá nơi người môn đệ Đức Giêsu
Tha hoá nơi người môn đệ Đức Giêsu là tình trạng đánh mất căn tính, mất những nét riêng thuộc về người tu. Và đỉnh điểm của nó là sự đánh mất chính Đức Kitô. Người tu trở thành hữu danh vô thực. Tình trạng tha hóa nơi các tu sĩ, những người đã khấn dâng mình cho Thiên Chúa, lại có những nét đáng lưu tâm hơn:
- a) Mất căn tính ơn gọi: từ “người thuộc trọn về Chúa” trở thành “người làm nghề tôn giáo”, người ấy sống như một một người làm công ăn lương mà thiếu đi lửa nhiệt huyết sứ vụ.
- b) Chạy theo hiệu năng: việc quá lo lắng cho các hoạt động mục vụ, các công trình dự án mà bỏ quên đời sống nội tâm, việc cầu nguyện, và sự hiệp thông cá vị với Chúa cũng trở nên một vấn đề đáng lưu tâm.
- c) Sự mệt mỏi và khủng hoảng ý nghĩa: khi đánh mất mối tương quan tình yêu ban đầu với Đức Kitô, người tu sĩ dễ rơi vào tình trạng “mù lòa nội tâm”, sống chiếu lệ, chỉ còn “vỏ bề ngoài” mà thiếu cái hồn của ơn gọi. Sự “ngụy tín” (mauvaise foi) mà triết gia Sartre đã vạch trần cũng lần theo đó mà xuất hiện nơi người tu sĩ khi họ chấp nhận sống với “vỏ bề ngoài”. Đó là lúc người môn đệ tự bịt mắt để khỏi nhìn nhận những dự tính thầm kín của mình.[3] Điều đó biến họ trở nên những người thiếu thành thực, thiếu quảng đại, thiếu can đảm… những dạng thức của sự sa ngã theo cách nhìn của triết gia Jaspers.[4]
Tha hóa nơi tu sĩ, đánh mất căn tính là người thuộc trọn về Chúa, biến đời sống tu trì thành một nghề, rơi vào chủ nghĩa duy hoạt động hoặc duy hình thức. Đức cố Giáo hoàng Phanxicô trong Evangelii Gaudium (2013) nói đến một thứ “cám dỗ buồn bã và chán nản” trong đời sống tu sĩ và mục tử: đánh mất niềm vui Tin Mừng, chỉ sống chiếu lệ, khi ngài nói: “Đây chính là một mối nguy cho cả người tín hữu. Nhiều người rơi vào mối nguy này, và kết cục là cảm giác bực bội, tức giận và chán nản. Đó không phải là cách để chúng ta sống một đời sống xứng đáng và sung mãn; đó không phải là ý muốn của Thiên Chúa đối với chúng ta, cũng không phải là đời sống trong Thần Khí bắt nguồn từ trái tim của Đức Kitô phục sinh” (EG 2). Ngài cảnh báo “chủ nghĩa thế tục thiêng liêng” khi người tu sĩ sống trong vỏ bọc đạo đức, nhưng thực ra tìm kiếm quyền lực, danh tiếng, an toàn cho bản thân: “Núp dưới dáng vẻ của lòng đạo đức và thậm chí lòng yêu đối với Hội Thánh, tính thế tục thiêng liêng hệ tại việc không tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa mà là tìm vinh quang loài người và sự thoả mãn của bản thân. Đó là điều Chúa mắng những người Biệt Phái” (EG 93). Người môn đệ rơi vào những hình thức tha hóa thiêng liêng làm con người cảm thấy tự đủ, mất khiêm tốn và lệ thuộc cách bị động vào ân sủng.
- Đi tìm một phương thế chữa lành
Thoáng nhìn về tình trạng tha hoá không nhằm phê phán hay rời bỏ nhưng là một lời mời gọi đi tìm lại bản chất, nghĩa là trở lại để làm mới trong sự sáng tạo.
Trước hết, đối diện với tình trạng này, người Kitô hữu và nhất là các tu sĩ được mời gọi trở về với nguồn mạch đích thực là Đức Kitô: chỉ nơi Người, con người mới tìm lại căn tính thật và ý nghĩa đời mình. Điều mà Hiến chế Gaudium et Spes đã mạnh mẽ quả quyết rằng mầu nhiệm con người chỉ được sáng tỏ nơi mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể (GS 22). Chỉ trong Đức Kitô, con người nói chung mới tái khám phá tôi là ai và ơn gọi của tôi là gì?
Kế đến, sự đặt mình trước mặt Chúa và lời cầu nguyện là những phương thế hữu hiệu để con người sống tương quan trực tiếp, cá vị với Thiên Chúa. Và sau cùng, người môn đệ được mời gọi sống trung thực với tình trạng của bản thân trong đời sống ơn gọi: thay vì “tự lừa dối”, hãy phải can đảm đối diện với sự khô khan, khủng hoảng, để xin Chúa trợ giúp và ban ơn đổi mới.
Như vậy, tha hóa không chỉ là một khái niệm triết học, nằm trên bình diện sách vở nhưng là một cảnh báo thực tế cho mỗi Kitô hữu và cả những người tu sĩ hôm nay: khi đánh mất căn tính Kitô hữu – tức là đánh mất chính Đức Kitô – con người dễ rơi vào vong thân, sống không còn ý nghĩa. May mắn thay, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một mẫu gương là Đức Giêsu, Đấng đã sống giữa kiếp người như chúng ta những luôn nhớ rõ Ngài từ Chúa Cha mà đến và luôn giữ mối liên hệ mật thiết với Chúa Cha. Nơi Ngài, chúng ta tìm được một nơi để neo đậu trong mọi hoàn cảnh, mọi khó khăn và thử thách.
Chú thích:
[1] Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, Nxb Văn hoá (2005), tr.95
[2] http://triethoc.edu.vn/vi/thuat-ngu-triet-hoc/thuat-ngu-tong-quat/tha-hoa-su-alienation_1875.html
[3] Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, Nxb Văn hoá (2005), tr.124
[4] Sđd, tr. 95











