Don’t cry for me – Đừng khóc thương tôi

0
202

Khi chiêm ngắm Đức Giêsu trên những chặng đường thương khó, trái tim con người khơi dậy những cảm xúc “rất người”: đau xót, nghẹn ngào, thậm chí tuôn trào những giọt nước mắt. Nhưng giữa những dòng cảm xúc ấy, lời của Đức Giêsu vang lên với các phụ nữ thành Giêrusalem lại như một nghịch lý: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (x. Lc 23,28). Lời ấy không gạt đi nước mắt, nhưng thanh luyện nước mắt. Không phủ nhận lòng thương cảm, nhưng nâng nó lên một bình diện sâu xa hơn: từ cảm xúc tự nhiên đến sự hoán cải nội tâm.

  1. “Đừng khóc thương tôi” – vượt qua lòng thương cảm thuần cảm xúc

Trong những ngày Tuần Thánh, toàn thể Giáo Hội tiến gần đến trung tâm điểm của Năm Phụng Vụ là cuộc Tử nạn và biến cố Phục sinh của Đức Giêsu. Chúng ta dành thời giờ để suy tư về cuộc Thương Khó, khi suy tưởng lại những khổ nạn mà Đức Giêsu đã chịu qua các trang Kinh Thánh, hay qua các thước phim được dựng lại, chúng ta không khỏi xót xa trước những cực hình mà Đức Giêsu chịu. Điều đó khơi lên trong ta những cảm thương và có lẽ cũng có cả những giọt nước mắt… vì “xót thương” Đức Giêsu. Đó có lẽ cũng chính là tâm trạng và cảm xúc của các phụ nữ thành Giêrusalem, những người trực tiếp chứng kiến hành trình Đức Giêsu vác thập giá tiến về đồi Canvê. Những phụ nữ thành Giêrusalem khóc vì thấy một con người vô tội bị hành hạ cách dã man. Họ xúc động trước nỗi đau thể lý của Đức Giêsu. Niềm cảm thương của các phụ nữ thành Giêrusalem là điều hết sức “con người” phát xuất từ việc chứng kiến những nỗi đau thể lý mà Đức Giêsu đang chịu và hơn hết là phát xuất từ tình yêu dành cho Đức Giêsu.

Trình thuật Tin Mừng thuật lại cho chúng ta thấy “dân chúng đi theo Đức Giêsu đông lắm, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người” (x. Lc 22,27). Hành động đấm ngực của các phụ nữ có thể liên hệ đến hình ảnh người thu thuế trong câu chuyện hai người lên đền thờ cầu nguyện (Lc 18,9-14): “Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi’” (c.13). “Đấm ngực” là dấu hiệu của nỗi buồn tột độ mà người phụ nữ Do Thái thường làm trong đám tang (x. Lc 23,27.48). Đây là một cử chỉ được sử dụng để thể hiện nỗi buồn và sự đau khổ tột cùng. Chỉ có một nơi khác trong Kinh Thánh tham chiếu đến hành động này. Lc 23,48 thuật lại rằng sau khi Đức Giêsu tắt thở trên thập tự giá, “toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về”.[1]

Đứng trước sự thương khóc của những người phụ nữ thành Giêrusalem, Đức Giêsu lại hướng ánh nhìn của họ – và của chúng ta – vượt xa hơn những điều mắt thấy. Nếu chỉ dừng lại ở sự thương cảm đơn thuần, chúng ta có nguy cơ nhìn cuộc khổ nạn và thập giá Đức Giêsu như một thất bại. Thập giá, nơi bị xem là khổ hình ô nhục nhất dành cho những nô lệ phạm trọng tội, “điều mà người Do Thái cho là ô nhục không thể chấp nhận và dân ngoại cho là điên rồ” (x. 1Cr 1,23). Từ việc phải chịu đánh đòn trước khi vác khổ hình thập giá, đến việc phải vác chính cây thập giá ấy mà bị điệu đi đến nơi hành hình, bị lột trần và đóng đinh, ở đó phạm nhân sẽ phải hấp hối trong những cơn co giật và đau đớn ghê gớm. Tất cả chỉ nhằm để khổ hình ấy làm mất phẩm giá phạm nhân ngần nào có thể. Thế nên, vào thời Đức Giêsu, người ta không thể nghe từ này mà không thấy toàn thân run sợ. Đối với người Do Thái, thêm vào tất cả những chuyện đó còn có lời chúc dữ của Thiên Chúa, bởi Kinh Thánh nói: “Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ!” (x. Gl 3,13).[2] Và nếu chỉ dừng lại ở vẻ ngoài đau đớn: một Đức Giêsu chịu đánh đòn, vác thập giá, bị đóng đinh, bị treo lên… (nỗi đau thể xác) nhưng cũng nhục nhã vì bị nhục mạ, đội mão gai, lột áo; cô đơn vì các môn đệ bỏ trốn; cảm giác như bị Thiên Chúa ruồng bỏ (nỗi đau tinh thần), chúng ta có nguy cơ nhìn về Ngài chỉ như là một “nhân vật đáng thương”. Và sau cùng, chúng ta có chỉ dừng lại ở cảm xúc con người đơn thuần mà không hướng tới chiều kích đức tin.

Chúng ta cần xác quyết rằng thập giá và những khổ đau mà Đức Giêsu chịu không phải là một bi kịch, nhưng thuộc về mầu nhiệm tự hiến. Nơi đó, Đức Giêsu là Đấng tự do hiến chính mình trong tình yêu (x. Ga 10,18) để đem lại ơn cứu độ cho con người. Thần học Thập giá mời gọi ta đi xa hơn: không chỉ “khóc thương” Đức Giêsu, mà còn “tin” vào tình yêu và ơn cứu độ của Ngài. Nước mắt, nếu chỉ là xúc động, có thể chóng qua. Nhưng nếu được soi sáng bởi đức tin, nó trở thành lời cầu nguyện, trở thành sự chiêm niệm. Khi đó, mỗi người không còn đứng ngoài cuộc như khán giả của một thước phim, nhưng bước vào trong mầu nhiệm: Không phải chỉ là “Chúa đau khổ vì con người”, mà là “Chúa chịu đau khổ vì chính tôi”. Vì thế, lời của Đức Giêsu “đừng khóc thương tôi” không diễn tả sự thờ ơ, vô cảm trước khổ hình mà Ngài đang gánh chịu nhưng trở thành lời mời gọi người tin không chỉ dừng lại ở cảm xúc bề ngoài, nhưng hãy tiến vào chiều sâu của mầu nhiệm cứu độ.

  1. “Hãy khóc cho chính mình” – nước mắt của hoán cải

Vế thứ hai trong lời mời gọi của Đức Giêsu mang một chiều kích nội tâm mạnh mẽ: hãy quay về với chính mình. Đức Giêsu chịu khổ nạn vì tội lỗi nhân loại, làm sao mỗi người có thể đứng ngoài biến cố thương khó của Ngài? Nước mắt lúc này không còn là nước mắt của cảm thương, nhưng trước hết và trên hết, phải trở thành nước mắt của sám hối.

Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 12/02/2020, Đức Thánh Cha Phanxicô trong loạt bài giáo lý về các Mối Phúc đã diễn giải mối phúc thứ hai: “Phúc thay ai lo buồn sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5, 4). Các Giáo phụ ẩn tu gọi đây là sự đau khổ thật sự, sự sầu khổ nội tâm, là điều có thể giúp chúng ta đi đến tương quan đích thực với Thiên Chúa và tha nhân. Kinh Thánh nói về hai sự sầu khổ: thứ nhất là khi đứng trước đau khổ hay sự qua đời của người thân và thứ hai là sầu khổ vì tội lỗi.[3]

Khóc cho chính mình trở thành một thứ “nước mắt chảy ngược vào trong” để nhận ra những “bóng tối” trong tâm hồn, nhận ra những lần ta từ chối tình yêu Thiên Chúa và nhận ra cả những lần chúng ta vô tình hay hữu ý “đóng đinh” Đức Giêsu bằng tội lỗi, ích kỷ và sự dửng dưng. Đó là nước mắt của người phụ nữ tội lỗi trong trình thuật Tin Mừng theo thánh Luca: “… có một người phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7,36-50). Đó cũng là nước mắt của thánh Phêrô Tông đồ sau khi chối Thầy:“đi ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (x. Mt 26,75). Giọt lệ của Phêrô không phải là sự tuyệt vọng, nhưng là khởi đầu của hành trình hoán cải. Chung quy, đó là những giọt nước mắt vì nhận ra tình yêu bao la của Thiên Chúa và cũng nhận ra Chúa phải gánh lấy những khổ hình vì tôi, chính tội lỗi của tôi đã “đóng đinh” Ngài vào thập giá. Giọt lệ được biến đổi thành tình yêu. Trong thần học tu đức, những giọt nước mắt như thế khởi đi từ sự sầu khổ thiêng liêng. Đó là một thái độ đã trở thành trung tâm trong linh đạo Kitô giáo và các giáo phụ ẩn tu gọi là “penthos”, nghĩa là một nỗi đau nội tâm, nó mở ra một tương quan với Chúa và với tha nhân, một tương quan được canh tân với Chúa và với tha nhân. Vẻ đẹp của thống hối, vẻ đẹp của ăn năn và đó là vẻ đẹp của nước mắt,[4] như đan sĩ Ephrem người Syria đã nói rằng một khuôn mặt được rửa sạch bởi nước mắt như thế thì đẹp tuyệt vời.

Photo: Đình Trường
  1. Vẻ đẹp của nước mắt

Đứng trước khổ nạn của Đức Giêsu, chúng ta được mời gọi rơi lệ và nhận ra vẻ đẹp của thập giá, vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa, vẻ đẹp của ơn cứu độ. Đứng trước thập giá Đức Giêsu, “một điều khó hiểu, một sự điên dại” theo cái nhìn của con người (1Cr 1,22-24), liệu chúng ta có nhận ra ơn cứu độ nơi đó hay chăng? Điều đó thật sự quan trọng, bởi lẽ, nếu không nhận ra điều đó, chúng ta sẽ trốn chạy khỏi thập giá. Nước mắt của hoán cải không làm ta chìm trong mặc cảm, nhưng mở ra hy vọng. Vì nơi Thập giá, tội lỗi không phải là dấu chấm hết nhưng chính tình yêu mở ra một chân trời mới. Trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, lời “đừng khóc thương tôi làm gì” của Đức Giêsu có thể trở thành một lời chất vấn nội tâm mỗi người. Có lẽ chúng ta sẽ rơi lệ vì đã không đủ yêu thương. Chúng ta than khóc vì đã không sống xứng đáng với tình yêu Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta không ngưng nghỉ; đồng thời, chúng ta buồn sầu khi nghĩ về những điều tốt đẹp mà mình đã không thực hiện. Việc nhận ra mình đã xúc phạm đến Thiên Chúa và làm tổn thương tha nhân khiến chúng ta đau đớn đến rơi lệ. Thiên Chúa vui nhận những giọt nước mắt thống hối này!

Tóm lại

Thập giá Đức Giêsu không cần những giọt nước mắt thương hại, nhưng cần những con tim được biến đổi. Lời của Đức Giêsu vẫn vang lên trong từng người chúng ta hôm nay: “Đừng khóc thương tôi… hãy khóc cho chính mình”. Đó là lời mời gọi đi vào chiều sâu của tình yêu cứu độ, nơi nước mắt không còn là kết thúc, nhưng là khởi đầu của một đời sống mới.

Thinh lặng để chiêm ngắm Thập giá, thinh lặng để … rơi lệ.

✍️ Tu sĩ Giuse Nguyễn Đình Trường, SVD

Chú thích:

[1] John F MacArthur, Luke 1-24 (MacArthur New Testament Commentary Series, Chicago: Moody Publishers, 2009), tr. 1495-1496.

[2] Raniero Cantalamessa, Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh, Dg: Lm. Micae Trần Đình Quảng, Nxb Đồng Nai (2020), tr.198-199.

[3] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dtc-phanxico-phuc-cho-ai-biet-than-khoc-vi-thong-hoi-loi-lam-39074

[4] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dtc-phanxico-phuc-cho-ai-biet-than-khoc-vi-thong-hoi-loi-lam-39074

Bài trướcGẶP ĐỨC GIÊSU KITÔ NƠI NHỮNG ĐIỀU BÉ NHỎ NHẤT
Bài tiếp theoGiáo xứ Vĩnh Tuy: Cuộc Thi Giáo Lý Mùa Chay 2026