Bài Ðọc I: 2 V 5, 14-17
“Naaman trở lại gặp người của Thiên Chúa và ông tuyên xưng Chúa”.
Trích sách Các Vua quyển thứ hai.
Trong những ngày ấy, Naaman, quan lãnh binh của vua xứ Syria, xuống tắm bảy lần ở sông Giođan như lời tiên tri, người của Thiên Chúa dạy, da thịt ông lại trở nên tốt như da thịt của đứa trẻ, và ông được sạch.
Sau đó, ông và đoàn tuỳ tùng trở lại gặp người của Thiên Chúa. Ðến nơi, ông đứng trước mặt người của Thiên Chúa và nói: “Thật tôi biết không có Thiên Chúa nào khác trên hoàn vũ, ngoài một Thiên Chúa ở Israel. Vì thế, tôi xin ông nhận lấy phần phúc của tôi tớ ông”.
Tiên tri trả lời rằng: “Có Chúa hằng sống, tôi đang đứng trước mặt Người: Thật tôi không dám nhận đâu”. Naaman cố nài ép, nhưng tiên tri không nghe. Naaman nói thêm rằng: “Tuỳ ý ông, nhưng tôi xin ông ban phép cho tôi, là đầy tớ của ông, được chở một ít đất vừa sức hai con la chở được, vì từ nay ngoài Chúa, tôi tớ của ông sẽ chẳng dâng của lễ toàn thiêu hoặc hy lễ cho thần minh nào khác”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 97, 1. 2-3ab. 3cd-4
Ðáp: Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người trước mặt chư dân (c. 2b).
Xướng: 1) Hãy ca tụng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người. – Ðáp.
2) Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người; trước mặt chư dân Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel. – Ðáp.
3) Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca! – Ðáp.
Bài Ðọc II: 2 Tm 2, 8-13
“Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Ðức Kitô”.
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu.
Con thân mến, con hãy nhớ rằng Chúa Giêsu Kitô bởi dòng dõi Ðavít, đã từ cõi chết sống lại, theo như Tin Mừng cha rao giảng. Vì Tin Mừng đó mà cha phải đau khổ đến phải chịu xiềng xích như một kẻ gian ác, nhưng lời của Thiên Chúa đâu có bị xiềng xích! Vì thế, cha cam chịu mọi sự vì những kẻ được tuyển chọn, để họ được hưởng ơn cứu độ cùng với vinh quang trên trời trong Ðức Giêsu Kitô.
Ðây cha nói thật: Nếu chúng ta cùng chết với Người, thì chúng ta cùng sống với Người. Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. Nếu chúng ta chối bỏ Người, thì Người cũng sẽ chối bỏ chúng ta. Nếu chúng ta không tin Người, Người vẫn trung thành, vì Người không thể chối bỏ chính mình Người.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Lc 19, 38
Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời! – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 17, 11-19
“Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, Người đi qua biên giới Samaria và Galilêa. Khi Người vào một làng kia, thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: “Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi”. Thấy họ, Người bảo họ rằng: “Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế”. Trong lúc họ đi đường, họ được lành sạch. Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người, mà người ấy lại là người xứ Samaria.
Nhưng Chúa Giêsu phán rằng: “Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này”. Rồi Người bảo kẻ ấy rằng: “Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi”.
Ðó là lời Chúa.
Bài giảng chủ đề:
SAO KHÔNG THẤY HỌ TRỞ LẠI …?
Lm. Phêrô Nguyễn Đức Vinh, SVD
Họ đứng chờ …
Chữa lành là một từ khóa được tìm nhiều nhất trong thời gian gần đây. Điều này được coi là một trào lưu, bao gồm đủ mọi thứ hoạt động[1] giúp phục hồi tinh thần, tâm trí, thể lí, như: tập thể dục, chơi thể thao, làm vườn, đi du lịch, đi massage, các khóa thiền ngắn hạn, gần gũi với thiên nhiên… Thay đổi môi trường sinh hoạt, ngắt kết nối với công việc gây căng thẳng mệt mỏi hàng ngày, là điểm cốt yếu. Làm theo, nói theo cách vô tư là cái tài của con-người-tập-thể. Nhưng nhu cầu tìm sự chữa lành (cấp tốc) này cũng phản ảnh thực tế dễ tổn thương của con người vào buổi giao thời.
Hiện tượng này được cho rằng xuất phát từ nhu cầu hưởng thụ cuộc sống, và từ việc quan tâm chăm sóc sức khỏe tinh thần của người trẻ. Qua đó, nó cho thấy một thay đổi lớn đáng nghi nhận trong xã hội chúng ta. Con người bước ra khỏi vùng đất xưa, nơi chỉ được dạy quên mình để sống cho mọi người, và bước vào nơi các nhu cầu cá nhân được nhận diện và tìm sự thỏa đáp. Được công nhận như là cá thể độc lập với những nhu cầu và quyền lợi riêng, là một ước muốn và hướng phát triển không thể tránh của nhân loại mọi nơi mọi thời. Nhân sinh quan truyền thống nặng tính tập thể phải chấp nhận hướng phát triển đối nghịch không thể cưỡng lại này. Nhận thức của người mình về sức khỏe tâm thần trong thực tế còn nằm ở mức thấp, và chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm lí cũng chưa được phát triển mạnh đủ.
Với Kitô hữu, đây là một thách đố động viên truy tìm các nguyên nhân sâu hơn; họ cần tìm ra câu trả lời và chỉ ra lối chữa lành từ niềm tin của mình. Nói đến chữa lành là giả định thực tế bị tổn thương, không lành. Các nguyên nhân trực tiếp được nhắc đến, thường liên quan đến công việc và những bon chen gây áp lực và căng thẳng. Một mặt, sự phát triển xã hội luôn kéo theo những phức tạp mới chưa hề có, được cảm nhận như là một đòi hỏi quá sức. Mặt khác, con người xuất phát từ thế giới nông nghiệp truyền thống, và phải chịu nhiều ảnh hưởng bất lợi to lớn mang tính lịch sử, không có được sự chuẩn bị tương xứng cho nền kinh tế cạnh tranh thị trường tầm mức thế giới.
Phô trương các thành quả đạt được, bất kể bằng những phương tiện nào – các biệt phủ, các đồ dùng mang thương hiệu đắt giá, hình ảnh hạnh phúc viên mãn của người có tiền có quyền – tạo áp lực mạnh trên thế hệ trẻ. Những lời động viên “chỉ vì nghĩ tốt cho họ” theo kiểu mẫu của một thời đã qua, cũng đổ thêm dầu vào lửa. Cổ xúy chủ nghĩa vô thần duy vật từ nhiều thập kỉ phủ nhận phần hồn nơi con người, và tạo nên một sự hụt hẫng cơ bản. Đây là nguyên nhân quan trọng thường không được đặt tên. Bị chối bỏ như vậy lâu ngày hồn phải chịu đói, và qua đó con người chịu tổn thương trầm trọng. Chưa kể là các ảnh hưởng tiêu cực của những cuộc chiến dài cho tâm sinh lí và các giá trị sống.
Chữa lành như đang được tìm kiếm chỉ giúp xoa dịu chút triệu chứng của một chứng bệnh trầm kha, là sự suy dưỡng nghiêm trọng mãn tính của phần hồn. Tìm kiếm sự chữa lành nhanh mạnh như một trào lưu, dễ tạo điều kiện cho việc lừa dối nhau và tự lừa mình. Những cái xác không hồn, vì “không duy tâm” theo cách nói của một thời, dù có tự gán cho mình những danh xưng nghe có vẻ chuyên môn, thì cũng phục vụ cùng một mục đích, là kiếm tìm lợi lộc vật chất. Khi các cơ sở tâm linh được xây dựng cũng là để làm kinh doanh, thì khó chờ đợi được điều gì khác hơn, là những thực hành đậm chất mê tín. Đoạn Tin Mừng của Luca (17, 11-19) đưa câu trả lời cho những người bị tổn thương tìm sự chữa lành. Cần phải tìm Đức Giêsu. Được chữa lành thực sự là khi bệnh nhân tôn vinh Thiên Chúa, vì qua đó nhận biết rõ và chấp nhận thân phận con người mình. Và đây là một con đường dài.
… không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa
Không ai trong chúng ta đây mắc bệnh phong cùi. Nhưng mỗi người chúng ta đều biết cảm giác không thoải mái với làn da sần sùi, khiến chúng ta không thể chấp nhận được mình. Trong tình trạng đó, chúng ta cảm thấy mình như đứng bên ngoài cộng đồng nhân loại, giống như những người cùi phải sống ở những khu vực riêng biệt. Lúc đó, chúng ta giải thích lời nói và cái nhìn của người khác như là một sự từ chối; nghĩ rằng mọi người đều chống lại mình. Với những ai không thể chấp nhận mình như một tạo vật có xác có hồn, thì việc trở nên lành sạch hoàn toàn chỉ có thể là một ảo mộng.
Tin Mừng Luca tường trình rằng chỉ có một người đáp lại việc trở nên lành sạch của thân xác, với việc quay trở lại và tạ ơn. Luca không kể lại những người khác đã làm gì. Mừng quá, bận quá, nên quên quay lại cảm ơn, hay họ coi việc được gia nhập lại cộng đồng loài người là mục đích đã đạt. Và thế là đủ. Con người đã trải qua một cuộc trở lại nội tâm, và bày tỏ sự hoán cải đó bằng cách lớn tiếng chúc vinh Thiên Chúa, người sấp mình dưới chân Đức Giêsu và tạ ơn Ngài, là một người Samari – một người ngoại giáo.
Thánh Luca mô tả những gì đã xảy ra nơi người Samari bằng ba từ: trở nên sạch (katharos), được chữa lành (iasthai), được cứu thoát (sozein). Ở đây, sozein cũng có thể hiểu là: trở thành chính mình hoàn toàn, tìm thấy con người thật của mình, chân ngã[2]. Trở nên trong sạch nghĩa là tôi chấp nhận bản thân mình, vì tôi cảm nhận được điều đó. Đây là một trải nghiệm quan trọng mà tất cả chúng ta đều khao khát. Nhưng điều đó vẫn còn nằm ở bình diện tâm lý. Chúng ta sẽ chỉ được chữa lành trọn vẹn, khi thừa nhận với tâm tình biết ơn rằng có điều gì đó đã thay đổi bên trong tôi. Những người từng cảm thấy không thể chấp nhận mình được, giờ đây có thể bằng lòng với bản thân vì được người khác chấp nhận. Nhất là vì cảm thấy được Thiên Chúa chấp nhận.
Lòng biết ơn cần được thể hiện trong sự hoán cải. Người Samari trở lại đoạn đường đã đi qua, cho đến cuộc gặp gỡ khởi đầu hành trình chữa lành, khi ghi nhận sự thay đổi trên thân thể. Sự biến đổi nội tâm cuối cùng dẫn đến việc chúc vinh Thiên Chúa. Niềm tin thúc đẩy bước này. Lòng biết ơn và lời ca khen là các yếu tố cần thiết, để cho trải nghiệm tốt đẹp, là được chấp nhận hoàn toàn, được chuyển biến thành một sự chữa lành thực sự.
Hoán cải, chúc tụng Thiên Chúa, tạ ơn và niềm tin, đó là bốn thái độ trong câu chuyện chữa lành. Cần đều đặn quan sát con đường mình đang đi, để biết có nên tiếp tục cuộc hành trình hay chúng ta cần trở lại. Ngợi khen Thiên Chúa chúng ta thoát khỏi việc quay quanh mình, và đặt Chúa làm trung tâm đời mình. Trong sự biết ơn chúng ta ứng xử tương xứng với thân phận là tạo vật. Triết gia Rôma Cicero nói rằng kẻ vô ơn quên mất mình là con người; người đó làm băng hoại nhân tính của mình. Trong đức tin chúng ta mới nhận ra bản chất đích thực của con người mình: là hình ảnh độc đáo như được Thiên Chúa đã tác tạo nên.
Chú thích
[1] Chữa lành ở đây không được hiểu như là những hoạt động hỗ trợ của các chuyên gia tâm lí, giúp hàn gắn, phục hồi sức khỏe, thể chất cũng như cảm xúc, tâm lý, tình cảm của con người sau các thương tổn. Đây cũng không là nổ lực chuyên môn giúp giảm bỏ những cảm xúc, suy nghĩ tiêu cực, sự bất an, để tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống và trong công việc, bằng các liệu pháp khác nhau.
[1] Xem Predigt von Pater Anselm Grün zum 28. Sonntag im Jahreskreis, in der Abteikirche Münsterschwarzach über Lukas 17, 11-19.
LÒNG BIẾT ƠN
Lm. Giuse Lâm Sơn Tòng, SVD
Lòng biết ơn là một trong những đức tính nhân bản nhất của con người. Trong tương quan xã hội, đức tính nhân bản ấy đã thấm nhuần vào mọi nền văn hóa từ Á sang Âu. Hai tiếng “cám ơn” gần như luôn xuất hiện trên môi miệng của mỗi người trong giao tiếp đời thường.
Trong văn hóa Việt Nam, lời khuyên dạy sống có lòng biết ơn đã được tiền nhân đúc kết thành những câu ca dao và châm ngôn sống để răn dạy và giáo dục con cháu. Vì thế, sống ở đời, phải biết “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” và “uống nước phải nhớ nguồn”. Hơn nữa, sống ở đời phải “có tình” như trong câu ca dao dạy “ơn ai một chút chớ quên, phiền ai một chút để bên cạnh lòng”.
Câu chuyện
Câu chuyện kể về một học giả Kinh Thánh nổi tiếng vào những năm đầu của thế kỷ 18, đó là học giả Matthew Henry.[1] Một ngày nọ, ông ta bị bọn cướp trấn lột mất hết tài sản trên người. Ngay đêm hôm đó, Henry đã ghi vào cuốn nhật ký của mình như sau: Hãy để cho lòng ta cảm tạ ơn Thượng Đế:
Thứ nhất, bởi vì cho đến bây giờ ta mới bị ăn cướp; trước đây ta chưa bao giờ bị bọn cướp đón đường cả. Thứ nhì, mặc dầu bọn chúng cướp cái ví tiền, nhưng chúng nó không cướp mất mạng sống của ta. Thứ ba, bởi vì mặc dầu chúng nó cướp sạch những gì ta có trên người lúc đó, nhưng cũng chẳng đáng giá là bao. Thứ tư, ta là người bị cướp, chứ ta không phải là quân đi ăn cướp.
Câu chuyện trên đây là một trong nhiều ví dụ về những mẫu gương biết sống và thể hiện lòng biết ơn trong mọi hoàn cảnh sống. Mặc dù Matthew Henry đã bị kẻ cướp lấy hết tiền bạc, nhưng ông vẫn tìm ra những lý do chính đáng để cám ơn Thượng Đế; tạ ơn Thượng đế ngay trong những lúc gặp hạn, thử thách cam go. Theo thánh Phaolô tông đồ thì chúng ta cần phải “cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh sống, vì đó là điều Thiên Chúa muốn” (1 Tx 5,18).
“Hãy có lòng biết ơn” là sợi chỉ xuyên suốt trong các bài đọc lời Chúa của Chúa Nhật XXVIII thường niên; cách riêng, trình thuật Tin Mừng (Lc 17,11-19) kể lại cho chúng ta một phép lạ chữa lành. Chúa Giêsu chữa lành cho mười người bị bệnh phong hủi.
Quan niệm của người Do Thái về bệnh phong hủi
Vào thời Chúa Giêsu, phong hủi là một trong những căn bệnh nan y không có thuốc chữa nên ai cũng ghê tởm những người bị bệnh đó. Người có bệnh phong hủi bị liệt vào hàng tội lỗi, vì người Do Thái tin rằng, phong hủi là hậu quả nhãn tiền của tội lỗi, bị Thiên Chúa giáng phạt. Vì thế, người mắc bệnh phong bị cách ly khỏi xã hội, đi ra đường phải mặc áo rách, để đầu trần, lấy khăn và áo che miệng, và phải hô lên “ô uế”, để mọi người biết mà tránh xa (x. Lv 13,1-44). Điều này lý giải vì sao những người bị phong hủi không dám tới gần Chúa Giêsu, mà chỉ đứng từ xa mà kêu to lời cầu khẩn.
Người mắc bệnh phong không chỉ đau đớn về phần xác, nhưng còn tệ hơn, họ bị tủi nhục về tâm hồn, bị chính người thân ruồng bỏ, xa lánh. Họ mang trong mình nỗi đau ám ảnh cùng tận về tinh thần lẫn thể xác. Vết thương lòng còn đau hơn căn bệnh thể lý.
Việc Chúa Giêsu chữa họ khỏi bệnh phong cho thấy tình thương và quyền năng của Chúa trên những người đau khổ bệnh tật. Và điều quan trọng hơn, qua phép lạ chữa lành ấy, Chúa đã phục hồi nhân phẩm của những bệnh nhân. Việc họ được khỏi bệnh về thể lý là một minh chứng để họ có thể được tái hội nhập vào cộng đoàn và xã hội. Chúa đã trả lại cho họ danh dự vốn có của một thành viên trong xã hội. Chúa đã biến những nỗi tủi hổ, khổ nhục trong tâm hồn của bệnh nhân thành niềm vui được hòa nhập vào trong xã hội.
Tuy nhiên, thật trớ trêu thay, trong mười người được hưởng ơn chữa lành lớn lao ấy, chỉ có một người nhận ra ơn ấy để rồi trở lại dâng lời tạ ơn Chúa; và người ấy lại là người ngoại bang Samari, một người ngoại đạo! Chỉ có một phần mười; một tỉ lệ rất thấp. Và một phần mười ấy theo Chúa Giêsu nhận xét lại là người ngoại giáo. Tuy là ngoại giáo theo nghĩa tôn giáo, nhưng người Samari này lại rất có đạo theo nghĩa đạo làm người. Việc anh ta quay trở lại để ngợi khen Thiên Chúa và bày tỏ thái độ biết ơn; điều này còn ý nghĩa hơn chính việc anh được chữa lành.
Chúa Giêsu đã phải thốt lên: “Không phải cả mười người được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại mà tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc 17,17-18). Chúa cho ta thấy Ngài rất ngạc nhiên về chín người Do Thái được chữa lành nhưng lại không đến tạ ơn. Qua đó, Chúa gián tiếp khen người ngoại giáo Samari về lòng biết ơn của anh.
Chắc chắn Chúa biết cả mười người đều được chữa lành. Câu hỏi của Chúa cho thấy sự ngạc nhiên về sự vô ơn của chín người mang danh nghĩa và tự hào là dân Thiên Chúa. Chính dân riêng được chọn lại sống vô ơn!
Người ngoại bang Samari quay lại để cám ơn Thiên Chúa không chỉ nhận được ơn phần xác mà còn được ơn phần hồn là củng cố niềm tin và đồng thời cũng xác định tư cách tôn giáo của anh. Người nói: “Đứng dậy về đi, lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Lc 17,19). Như thế, lòng biết ơn lại là dịp để tiếp nhận thêm ơn.
Sứ điệp lời Chúa và suy tư mục vụ
Sứ điệp lời Chúa đối với chúng ta thật rõ ràng và cụ thể. Chúa muốn mời gọi chúng ta sống tâm tình tạ ơn. Vì thế, trong cuộc sống đời thường, chúng ta cần phải thể hiện lòng biết ơn. Chúng ta phải tập thói quen biết tạ ơn Chúa nhiều lần trong ngày sống của mình; tạ ơn Chúa về mọi điều thiện hảo Chúa đã ban, những điều mình nhận ra, lẫn những điều mình chưa nhận ra.
Chúng ta cần thể hiện lòng biết ơn đối với Chúa trong mọi hoàn cảnh, khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu…và chúng ta hãy xác quyết như tâm tình của chị thánh Têrêsa Hài Đồng rằng “tất cả đều là hồng ân”. Mặc dù việc tạ ơn ấy “chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng ta ơn cứu độ”[2].
Thiên Chúa là nguồn mạch mọi ân sủng; Người không ngừng ban ơn trợ giúp cho con người. Thực vậy, từ nguồn sung mãn của Người, con người đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác (x. Ga 1,1-16). Vì thế, ta phải luôn hết lòng cảm tạ và tri ân Thiên Chúa.
Lòng biết ơn còn phải được thể hiện trong tương quan với tha nhân, vì con người sẽ không thể “là người” đúng nghĩa khi không có sự tương quan với tha nhân. Nói cách khác, con người sẽ không thể là người cách sung mãn và tròn đầy nhất nếu không nhờ đến và sống trong tương quan với người khác. Như vậy, người có lòng biết ơn chính là người có nhân cách thực sự. Tất cả những gì làm cho chúng ta hiện hữu và cả những gì chúng ta “đang có” đều là do ân sủng từ Thiên Chúa, và đón nhận từ tha nhân. Đã đón nhận thì phải biết tri ân. Nếu không có lòng biết ơn, thì sẽ không lớn nổi thành người.
Tôi không thể tự mình mà có. Tôi cần có người khác để hoàn thiện mình. Người khác ở đây là cha mẹ, anh chị em trong gia đình, là người thân thích, kể cả là thù địch…; tất cả đều đã và đang góp phần làm nên “cái bản ngã” của tôi. Vì thế, cuộc đời là một chuỗi những hồng ân lãnh nhận. Ta lãnh nhận từ thân xác đến những tri thức để thành nhân và thành danh.
Tắt một lời, chúng ta cần có lòng biết ơn sâu thẳm đối với Thiên Chúa và tha nhân, vì lòng biết ơn chính là nẻo đường dẫn ta đến gặp gỡ Thiên Chúa. Sống cho ra người, sống sao cho có tình người, đó là con đường bảo đảm nhất dẫn ta đến cùng Thiên Chúa và gặp gỡ tha nhân.
[1] http://tinmung.net/MinhHoa/MinhHoa_INDEX.htm
[2] Sách Lễ Rôma, Kinh Tiền Tụng Chung IV.
TẠ ƠN
Lm. Phêrô Mai Tình, SVD
Trong cuộc sống con người, một trong những tiếng quen thuộc gắn liền trên môi miệng con người qua mọi thời đại, đó là “lời cảm ơn”. Lời cảm ơn tuy ngắn gọn nhưng lại hàm chứa biết bao ý nghĩa sâu thẳm trong cuộc sống. Nhưng trong xã hội hôm nay, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, dường như con người ngày càng lạm dụng và dè dặt tỏ lòng biết ơn khi đón nhận hồng ân. Từ “cảm ơn” có lẽ đã trở nên nhàm chán và tầm thường đến độ con người không biết cảm ơn nhau và tạ ơn Chúa, mặc cho con người đã đón nhận quá nhiều ơn phúc. Sự nghịch lý và vô ơn đó được thánh Luca thuật lại cho chúng ta qua thái độ của mười người phong cùi trong bài Tin mừng hôm nay.
Quan niệm của người Do thái
Người Do thái ngày xưaquan niệm rằng, bệnh phong là một căn bệnh nan y, khiến mọi người phải sợ hãi, kinh tởm và tìm mọi cách xa lánh. Những người mắc bệnh phong được coi như những xác chết biết đi. Họ là những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, không được sống chung với những người thân yêu trong gia đình cũng như làng xóm. Họ bị đuổi ra những cách đồng, trong rừng núi hay một nơi cô tịch nào đó. Nếu ai tiếp xúc hay đụng chạm tới những người bệnh phong thì coi như bị ô uế và mắc tội nặng. Do đó, người bệnh luôn mang trong mình nỗi đau ám ảnh cùng tận về tinh thần lẫn thể xác. Có lẽ, mười người phong cùi trong bài Tin mừng hôm nay cũng không phải ngoại lệ.
Động lực dẫn người phong cùi tới gặp Chúa Giêsu
Trong sự vô vọng vì luật lệ và bệnh tật, mười người bệnh phong đã tìm được niềm hy vọng nơi Chúa Giêsu. Họ đã cố gắng kìm hãm những nỗi đau trên cơ thể và trong tâm hồn để đến gặp Chúa Giêsu. Họ đã vượt qua rào cản của luật lệ cũng như sự đố kỵ của mọi người xung quanh. Họ đặt tất cả niềm tin, sự hy vọng vào Đức Giêsu và chính trong đau khổ, quyền năng của Đức Giêsu được tỏ hiện. Khi gặp Đức Giêsu, họ chỉ dám đứng xa nài xin Đức Giêsu với lòng thương xót: “Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi!” (Lc 17,13). Đức Giêsu không chữa họ ngay; Người muốn thử lòng tin của mỗi người nên bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế” (Lc 17,14). Mười người vâng phục lên đường và chính trên đường đi tất cả được khỏi bệnh. Đáng lẽ, sau khi nhận được hồng phúc đó, họ phải trở lại tìm Chúa Giêsu để nói lên lời cảm ơn.
Thế nhưng, trong số đó chỉ có một người quay lại chúc tụng và tạ ơn Chúa. Câu hỏi của Chúa Giêsu như là một lời trách móc: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Còn chín người kia đâu?” (Lc 17,17). Chỉ có một phần mười trong số những người được khỏi bệnh biết quay trở lại tạ ơn Chúa; thật là mộttỷ lệ quá thấp. Hơn nữa,một người hiếm hỏi biết quay lại tạ ơn lại là người Samari, một kẻ ngoại giáo. Mặc dù ngoại giáo, nhưng anh đã mạnh dạn công khai tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu và anh đã được chữa lành. Theo cái nhìn của Chúa Giêsu, người ngoại giáo này có đạo hơn chín người Do Thái kia, bởi vì anh ta đã thực thi nhân đức cao quý nhất của con người là lòng biết ơn đối với những ai giúp đỡ. Vậy Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta điều gì ?
Bài học cho mỗi kitô hữu hôm nay
Chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển, nhiều người trong chúng ta không được chứng kiến những người mắc bệnh phong hiểm nghèo, nhưng hình bóng bệnh phong trong tâm hồn vẫn luôn ẩn hiện nơi mỗi con người. Đó là những tính hư nết xấu, những lời nói lăng nhục, những xảo trá điêu ngoa và những gian dối, lừa bịp nhau trong cuộc sống. Tất cả những thứ đó giống như những con vi rút của bệnh phong ngày đêm đục khoét, bào mòn tâ, hồn và làm cho chúng ta xa lìa tình yêu Thiên Chúa. Hơn nữa, con người ngày nay quá vô cảm trước nỗi đau của những người bất hạnh; tâm hồn và con tim của chúng ta như đã chai lỳ khi nhìn thấy người khác gặp tai ương hoạn nạn.
Hằng ngày chúng ta chỉ biết mải miết chạy theo nhu cầu vật chất, lo lắng cơm áo gạo tiền mà quên mất tình người với nhau.Chúng ta không nói được từ cảm ơn với nhau trong gia đình. Khi không có lời tạ ơn với Chúa và cảm ơn nhau, chúng ta sẵn sàng bán rẻ những người thân quen cũng như những người cùng huyết tộc. Từ đó, làm cho mối tương quan trong gia đình và tình yêu Thiên Chúa ngày một khô cứng và nguội lạnh.
Khi nhu cầu cuộc sống đầy đủ, chúng ta lại thường khinh dể người khác, coi người khác không đồng hàng với mình, sẵn sàng xô đổ những mối tương quan thân thiết để chứng tỏ cái tôi của mình. Chúng ta tự hào với bản thân mà quên rằng tất cả những thành công trong cuộc sống đều có sự can thiệp và ban ơn của Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta hãy cố gắng biết ơn Thiên Chúa và tạ ơn nhau trong mọi ngữ cảnh của cuộc sống, đừng vô cảm như chín người kia trong Tin mừng.
Là Kitô hữu, khi chúng ta nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội, chúng ta đã được dìm vào trong dòng máu của Chúa Giêsu, được gia nhập vào Hội Thánh của Người. Chúng ta phải học lấy gương mẫu, cũng như họa lại con đường Đức Giêsu đã đi, để mang ánh sáng đến với muôn dân qua cách sống và làm việc. Việc tiếp nối con đường Giêsu đòi hỏi chúng ta phải soi mình trước mặt Chúa, từ bỏ những thứ tham sân si, thận trọng trong lời ăn tiếng nói và có tinh thần bác ái yêu thương.
Trong cuộc sống thực tại, chúng ta phải biết khiêm nhường và nhường nhịn nhau. Vì khiêm nhường là một trong những nhân đức trọng yếu của đời sống Kitô hữu.Nhờ khiêm nhường mà những người phong cùi bước ra khỏi vòng xoáy của bệnh tật, nhờ khiêm nhường mà họ vượt qua rào cản của lề luật và nhờ khiêm nhường mà Chúa Giêsu đã phục hồi nhân vị cho họ.
Mỗi chúng ta cũng phải cố gắng noi gương bắt chước hành động và cử chỉ của những người phong cùi, biết nhìn nhận mình là người tội lỗi, yếu đuối, bất xứng để dám mạnh dạn chạy đến với Chúa Giêsu nơi bí tích hòa giải, vì chỉ trong Chúa Giêsu, chúng ta mới khỏa lấp được niềm khát vọng của mỗi người chúng ta.
Ước gì lời Chúa ngày hôm nay thức tỉnh tâm hồn mỗi người chúng ta để luôn biết xác tín vào tình yêu của Thiên Chúa. Vì chỉ dưới bàn tay Thiên Chúa, chúng ta mới được hạnh phúc;chỉ bàn tay Thiên Chúa mới làm cho những điều không thể trở nên có thể; nhờ bàn tay Thiên Chúa,quyền lực sự dữ mới bị đập tan; và nhờơn Thiên Chúa, con người mới biết tạ ơn Ngài vàcảm ơn nhau. Amen.











