Chú giải Tin Mừng Chúa Nhật VI Phục Sinh Năm B (Ga 15,9-17)

0
813

Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU, CHẾT CHO NGƯỜI MÌNH YÊU

♦ Lm. Giuse Phạm Duy Thạch, SVD

(Xin đọc file PDF để có định dạng và màu sắc văn bản, giúp dễ hiểu hơn)

Bản văn và dịch sát nghĩa (Ga 15,9-17)

Hy Lạp Việt
9 Καθὼς ἠγάπησέν με ὁ πατήρ, κἀγὼ ὑμᾶς ἠγάπησα· μείνατε ἐν τῇ ἀγάπῃ τῇ ἐμῇ.

10  ἐὰν τὰς ἐντολάς μου τηρήσητε, μενεῖτε ἐν τῇ ἀγάπῃ μου, καθὼς ἐγὼ τὰς ἐντολὰς τοῦ πατρός μου τετήρηκα καὶ μένω αὐτοῦ ἐν τῇ ἀγάπῃ.

11  Ταῦτα λελάληκα ὑμῖν ἵνα ἡ χαρὰ ἡ ἐμὴ ἐν ὑμῖν ᾖ καὶ ἡ χαρὰ ὑμῶν πληρωθῇ.

12  Αὕτη ἐστὶν ἡ ἐντολὴ ἡ ἐμή, ἵνα ἀγαπᾶτε ἀλλήλους καθὼς ἠγάπησα ὑμᾶς.

13  μείζονα ταύτης ἀγάπην οὐδεὶς ἔχει, ἵνα τις τὴν ψυχὴν αὐτοῦ θῇ ὑπὲρ τῶν φίλων αὐτοῦ.

14  ὑμεῖς φίλοι μού ἐστε ἐὰν ποιῆτε ἃ ἐγὼ ἐντέλλομαι ὑμῖν.

15  οὐκέτι λέγω ὑμᾶς δούλους, ὅτι ὁ δοῦλος οὐκ οἶδεν τί ποιεῖ αὐτοῦ ὁ κύριος· ὑμᾶς δὲ εἴρηκα φίλους, ὅτι πάντα ἃ ἤκουσα παρὰ τοῦ πατρός μου ἐγνώρισα ὑμῖν.

16  οὐχ ὑμεῖς με ἐξελέξασθε, ἀλλ᾽ ἐγὼ ἐξελεξάμην ὑμᾶς καὶ ἔθηκα ὑμᾶς ἵνα ὑμεῖς ὑπάγητε καὶ καρπὸν φέρητε καὶ ὁ καρπὸς ὑμῶν μένῃ, ἵνα ὅ τι ἂν αἰτήσητε τὸν πατέρα ἐν τῷ ὀνόματί μου δῷ ὑμῖν.

17  Ταῦτα ἐντέλλομαι ὑμῖν, ἵνα ἀγαπᾶτε ἀλλήλους. (Jn. 15:9-17 BGT)

9 Hệt như Cha yêu thương tôi, tôi cũng yêu thương anh em. Hãy ở lại trong tình yêu của tôi.

10 Nếu anh em giữ các điều răn của tôi, anh em ở lại trong tình yêu của tôi, hệt như tôi đã và đang giữ các điều răn của Cha tôi và ở lại trong tình yêu của Ngài.

11 Tôi đã nói với anh em những điều này để niềm vui của tôi ở trong anh em và niềm vui của anh em được trọn vẹn.

12 Đây là điều răn của tôi, rằng anh em yêu thương nhau như tôi đã yêu thương anh em.

13 Không có tình yêu nào vĩ đại hơn (tình yêu) của người hy sinh mạng sống của anh ta vì những người bạn của anh ta.

14 Anh em là những người bạn của tôi nếu anh em làm những điều tôi truyền cho anh em.

15 Tôi không còn gọi anh em là những tôi tớ bởi lẽ tôi tớ không biết điều mà ông chủ của anh ta làm. Tôi đã gọi anh em là những người bạn vì lẽ tất cả những điều tôi nghe từ Cha tôi, tôi đã làm cho anh em biết.

16 Không phải anh em đã chọn tôi, nhưng tôi đã chọn anh em và sắp đặt để anh em ra đi và sinh hoa trái và hoa trái của anh em duy trì, để điều anh em xin Cha nhân danh của Tôi, Ngài có thể ban cho anh em.

17 Tôi truyền cho anh em những điều này để anh em có thể yêu thương nhau

  

Bối cảnh:

Đoạn 15,9-17 nằm trong phần thứ III của Tin Mừng thứ tư có tên là “Sách của sự tôn vinh” (13,1 – 20, 29).[1] Đoạn 15,9-17 tiếp nối đoạn 15,1-8, nói về mối tương quan mật thiết tự nhiên giữa Chúa Cha, người trồng nho – Đức Giê-su, cây nho – và các môn đệ, những cành nho. Đoạn tiếp theo 15,9-17 tiếp tục nói về mối tương quan giữa Chúa Cha – Đức Giê-su – các môn đệ, một cách cụ thể hơn. Hình ảnh cây nho cành nho không còn được nhắc đến nữa, nhưng chủ đề “sinh hoa trái” thì vẫn được tiếp tục: “Tôi đã chọn anh em và sắp đặt để anh em ra đi và sinh hoa trái và hoa trái của anh em tồn tại” (15,16). Bên cạnh đó, chủ đề “ở lại” cũng được tiếp tục. Tuy nhiên, trong đoạn này không gian của “sự ở lại” đã được cụ thể hóa là “trong tình yêu của” Đức Giê-su: “hãy ở lại trong tình yêu của tôi” (15,9). Chủ đề mới “tình yêu” và “những người bạn” được mở ra trong đoạn này. Điều răn quan trọng của Đức Giê-su được truyền ra: “anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em”. Điều răn này rõ ràng lặp lại “điều răn mới” mà Đức đã ban cho các môn đệ trước đó ít lâu: “Một điều răn mới tôi truyền cho anh em, rằng anh em yêu thương nhau như thể tôi đã yêu thương anh em, anh em cũng phải yêu thương lẫn nhau” (13,34). Và dấu hiệu để mọi người nhận biết các môn đệ là môn đệ của Đức Giê-su là họ “có tình yêu dành cho nhau” (13,35). Khi giải thích thế nào gọi là “như Thầy đã yêu thương anh em”, Đức Giê-su đề cập đến một tình yêu cao cả nhất: “hy sinh tính mạng vì bạn của mình”. Chủ đề “hy sinh tính mạng” vì những người bạn không khỏi làm cho độc giả liên tưởng ngay đến cuộc thương khó và cái chết của Đức Giê-su. Cái chết của Đức Giê-su biểu lộ tình yêu ở mức cao nhất. Đó là sự tự hiến vì “những người bạn” là các môn đệ và toàn thể nhân loại. Chủ đề “Chúa Cha yêu Chúa Giê-su” (15,9) nối kết nhiều nơi trong Tin Mừng thứ tư: “Chúa Cha yêu Người Con và đã đặt tất cả trong tay Người” (3,35); “Chúa Cha yêu Người Con và cho Người thấy cả những gì Người đang làm” (5,20); “Chúa Cha yêu Người Con vì Người dám hy sinh mạng sống rồi lấy lại” (10,17). Chủ đề về tương quan giữa “tình yêu” và “giữ các điều răn” ở 15,10.12.17 cũng là chủ để quan trọng của chương 14 trước đó: “Nếu anh em yêu tôi, anh em sẽ giữ các điều răn của tôi” (15,14); “Người có những điều răn của tôi và giữ chúng là những người yêu tôi” (14,21); “những người yêu tôi sẽ giữ lời tôi” (14,23); “ai không yêu tôi thì không giữ điều răn của tôi” (14,24). Chủ đề “những người bạn” ở 15,13.14.15 gợi nhớ đến nhìn nhận của Gioan Tẩy Giả như là “bạn của Chàng rể” Giê-su (3,29) và “người bạn” (La-da-rô) của Đức Giê-su và các môn đệ: “người bạn của chúng ta, La-da-rô đang ngủ nhưng tôi sẽ đánh thức anh dậy” (11,11).

Giới hạn và cấu trúc

Giới hạn: Đoạn 15,9-17 có sự thống nhất về nội dung: nói về tình yêu giữa Cha – Con – các môn đệ; tương quan Giê-su – môn đệ như những người bạn; điều răn của Đức Giê-su: yêu như Đức Giê-su đã yêu. 15,9 không cho thấy sự thay đổi rõ ràng về không gian, thời gian hay nhân vật nhưng nó cho thấy sự thay đổi về chủ đề. 15,8 nói về sự tôn vinh Cha, hoa trái của các môn đệ trong khi đó 15,9 nói về tình yêu của Đức Giê-su dành cho các môn đệ so sánh với tình yêu Chúa Cha dành cho Đức Giê-su. Đoạn văn kết thúc ở 15,17 vì nó đóng khung lại đoạn văn nói về điều răn yêu thương đã được nói đến ở 15,12 (“đây là điều răn của tôi, rằng anh em hãy yêu thương nhau như tôi đã yêu thương anh em” – “những điều này tôi truyền cho anh em để anh em yêu thương nhau”) và hành động yêu thương của Cha và Đức Giê-su, Giê-su môn đệ ở 15,9. Kiểu đóng khung này thường được gọi là cấu trúc inclusio: Đoạn văn mở đầu và kết thúc bằng một yếu tố giố nhau.

Hệt như Cha yêu thương tôi, tôi cũng yêu thương anh em.

(A) Hãy ở lại trong Tình yêu của Giêsu (15,9).

(B) 10 nếu môn đệ giữ các điều răn của Giê-su

(A’) ở lại trong tình yêu của Giê-su (15,10a)

(B’) như thể Giê-su giữ các điều răn của Cha

(A’’) Ở lại trong tình yêu của Cha (15,10b).

C. Mục đích Giê-su nói những điều này: Để niềm vui ở trong và nên trọn vẹn (15,11).

(B1) Điều răn của Giê-su: yêu thương nhau như Giê-su đã yêu thương (15,12)

(B2) Tình yêu của Giê-su: Hy sinh mạng sống vì những người bạn (15,13).

(B3) Những người bạn: Các môn đệ

Điều kiện: nếu làm những điều Giê-su truyền (15,14)

(B3’) Không gọi là tôi tớ

Lý do: Không biết điều mà ông chủ làm (15,15a)

(B3’’) Gọi là những người bạn

Lý do: Cho biết tất cả những điều từ Cha (15,15b)

              (B3’’’) Chọn bạn, (hay môn đệ)

Sắp đặt ra đi – để sinh hoa trái,

Mục đích: Để tất cả những gì xin nhân danh Con – Cha ban cho (15,16).

C’. Mục đích truyền những lời này: Để anh em có thể yêu thương nhau (15,17)

 

Cấu trúc: Đoạn văn có cấu trúc khá phức tạp. Đoạn văn khởi đầu bằng một bộc lộ tình yêu của Đức Giê-su dành cho các môn đệ, được trình bày theo lối so sánh: tình yêu của Đức Giê-su dành cho các môn đệ giống như tình yêu Chúa Cha dành cho Đức Giê-su. Lời mời gọi “hãy ở lại trong tình yêu của Đức Giê-su” là khởi đầu cho chủ đề “ở lại” được cấu trúc hóa bằng 3 thành phần song song: (A) Hãy ở lại trong Tình yêu của Giê-su // (A’) Ở lại trong tình yêu Giê-su // (A’’) ở lại trong tình yêu của Cha. Điều kiện của việc ở lại trong tình yêu của Giê-su là (B) Giữ các điều răn của Người // (B’) Đức Giê-su giữ các điều răn của Cha. Thành phần (B) có những thành phần con (B1, B2, B3), được cấu trúc như là những bậc cấp. Cấp sau giải thích cho cấp trước, thành phần sau tiếp nối và làm rõ nghĩa thành phần trước. Thành phần (B) Giữ các điều răn của Giê-su, được tiếp nối bằng (B1) Điều răn của Đức Giê-su: Yêu thương nhau như Giê-su đã yêu thương. Thành phần (B1) Yêu thương như Giê-su đã yêu thương, được tiếp nối bằng thành phần (B2) Tình yêu của Đức Giê-su: hy sinh mạng sống vì những người bạn. Thành phần (B2) nói về những người bạn”, được tiếp nối bằng thành phần (B3) Những người bạn: Các môn đệ. Thành phần (B3) // (B3’) không gọi là tôi tớ // (B3’’) Gọi là những người bạn // (B3’’’) Chọn môn đệ – sắp đặt để ra đi – để sinh hoa trái – để tất cả những gì các môn đệ xin nhân danh người Con thì Người Cha sẽ ban cho. Trong cấu trúc này, có hai thành phần chỉ mục đích: (C) Mục đích Đức Giê-su nói những điều này: Để niềm vui của Người ở trong các môn đệ và niềm vui các môn đệ nên trọn vẹn // (C’) Mục đích Đức Giê-su truyền những điều này: để các môn đệ có thể yêu thương nhau.

Một số điểm chú giải

  1. “Như Cha yêu thương… tôi cũng yêu thương”: Đoạn văn bắt đầu bằng một cấu trúc: “Kathos … kai” diễn tả sự giống nhau, ngang bằng, theo mức độ. Liên từ “Καθὼς” (kathos) – “κἀγὼ” (kago = kai + ego: Tôi cũng) trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “hệt như”, “giống như”, “cùng một cách thức”, “theo mức độ”, “bởi vì” … “cũng, thì cũng”. Các bản dịch tiếng Anh (ESV: As…and), Pháp (TOB: Comme…aussi), Ý (CEI: Come… anche), Việt (CGKPV: Thế nào … như vậy). Tất cả đều muốn diễn tả mức độ và cách thức tình yêu của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Tình yêu đó có mức độ ngang bằng với tình yêu Cha dành cho Đức và các thức yêu cũng giống hết như cách Cha yêu Đức Giê-su. Đây là mức độ tình yêu tuyệt đối, tinh tuyền, khác biệt và kiểu mẫu cho tình yêu nhân loại. Trong Tin Mừng thứ tư, Đức Giê-su sử dụng khá nhiều cấu trúc này trong những tự bạch của Người: “Như Chúa Cha Hằng Sống đã sai tôi, tôi cũng sống nhờ Chúa Cha” (6,57): “như thể Chúa Cha biết tôi, tôi cũng biết Chúa Cha” (10,15); “Hệt như Cha đã sai con vào thế giới, Con cũng sai họ vào thế giới” (17,18). Trong tin Mừng thứ tư, độc giả có thể tìm thấy lối diễn tả tình yêu của Cha dành cho con trong nhiều trường hợp. Thứ nhất, tình yêu ấy thể hiện ở sự trao phó hoàn toàn, mọi sự: “Chúa Cha yêu Người Con và đã giao phó mọi sự trong tay Người” (3,35). Thứ hai, cho Người Con thấy mọi điều mình làm cũng là một dấu hiệu Chá Cha yêu Người Con: “Chúa Cha yêu Người Con và cho Người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ cho Người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa” (5,20). Thứ ba, lý do mà Chúa Cha yêu Người Con là vì “Người hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại” (10,17). Trong Tin Mừng Nhất Lãm, “Tiếng từ trời” gọi Đức Giê-su là “Con yêu dấu” (ὁ ἀγαπητός) trong hai dịp. Thứ nhất, nơi dòng sông Gio-đan, sau khi Đức Giê-su chịu Phép Rửa, có tiếng từ trời nói rằng: “đây là con yêu dấu của ta, với Người ta hài lòng” (Mt 13,7; Cf. Mc). Thứ hai, trong dịp Đức Giê-su biến hình, có tiếng từ đám mây nói rằng: “đây là con yêu dấu của Ta, với Người, Ta rất hài lòng, hãy lắng nghe lời của Người” (Mt 17,5; Cf. Mc 12,6; 2 Pr 1,17)
  2. “Hãy ở lại trong tình yêu”: Đây là lời mời gọi của Đức Giê-su theo lối mệnh lệnh. Động từ “ở lại” được dùng cách dày đặc (7 lần) trong đoạn văn trước (Ga 15,1-8). Trong đoạn văn này (Ga 15,9-17), động từ này cũng được sử dụng 3 lần trong hai câu đầu của đoạn. Nếu như trong đoạn trước lời mời gọi chỉ là: “ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em” (15,4), thì ở đây lời mời gọi cụ thể hơn “hãy ở lại trong tình yêu của Thầy” (15,9). “Tình yêu mà Đức Giê-su muốn các môn đệ ở lại chắc hẳn là tình yêu mà Đức Giê-su “yêu” các môn đệ “hệt như Chúa Cha đã yêu” Người (15,9). Ở lại trong tình yêu của Đức Giê-su nghĩa là người môn đệ dám để cho tình yêu ấy tràn ngập thân thể và cuộc đời mình. Mọi suy nghĩ, lời nói, hành động; mọi dự phóng và định hướng của cuộc đời họ tùy thuộc vào tình yêu ấy và được tình yêu ấy soi sáng. Ở lại trong tình yêu của Đức Giê-su là bày tỏ tình yêu của mình với Đức Giê-su.[2] Tình yêu không phải là một nơi chốn, nhưng là một hành động, một biểu lộ. Ở lại trong tình yêu là làm cho tình yêu ấy được tiếp tục duy trì và triển nở. Tình yêu của Đức Giê-su là tình yêu tuyệt đối, độc nhất vô nhị, xuất phát từ Chúa Cha. Tình yêu này được Đức Giê-su diễn tả ngay sau đó.
  3. “Giữ các điều răn”: Điều kiện để các môn đệ ở lại trong tình yêu của Đức Giê-su là: “giữ các điều răn” của Người”. Điều kiện này Đức Giê-su không chỉ đặt ra cho các môn đệ, mà Người đã đặt ra cho mình trước và đã thi hành trước. Người cũng đã giữ “các điều răn của Cha” của Người.[3] Trong “Bài Giảng Trên Núi”, Giê-su lưu ý về tầm quan trọng của việc giữ các điều răn: “ai bãi bỏ dù chỉ là một điều răn nhỏ nhất ấy và dạy người ta làm như thế thì sẽ bị xem là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời” (Mt 5,19). Ở nơi khác, Người cũng cảnh báo các Kinh Sư và những người Pha-ri-siêu về nguy cơ các ông giữ truyền thống mà vi phạm điều răn của Chúa: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn Thiên Chúa?” (Mt 15,3; Mc 7,8). Đức Giê-su cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải “giữ các điều răn” nếu muốn sống đời đời: “Nếu anh muốn vào cõi sống thì hãy giữ các điều răn” (Mt 19,17; Mc 10,18-19; Lc 18,20). Đức Giê-su cũng xác định điều răn trọng nhất là: “Yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”. Điều răn quan trọng không kém là “Phải yêu mến người thân cận như chính mình” (Mt 22,37-39; Mc 12,28-34; Lc 10,25-28). Riêng tác giả Luca còn phác họa chân dung hai người công chính là Da-ca-ri-a và An-na, những người đi theo tất cả mọi điều răn và mệnh lệnh (ταῖς ἐντολαῖς καὶ δικαιώμασιν) của Chúa, không chê trách được điều gì (Lc 1,6). C. Barett ghi nhận sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tình yêu và sự vâng phục trong việc giữ điều răn.[4] “Những điều răn của Đức Giê-su” bao gồm tất cả những lời dạy của Người. Đức Giê-su còn dùng lối diễn tả khác để nói về việc giữ điều răn của Người. Đó là “giữ lời của Thầy”: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến Người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Tuy nhiên, “điều răn yêu thương” chắc hẳn là điều răn quan trọng nhất.
  4. “Niềm vui của Đức Giê-su… niềm vui của các môn đệ”: “Những điều này tôi nói với anh em để niềm vui của tôi ở trong anh em và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn”. “Những điều này” (Ταῦτα) trong bối cảnh rộng có thể là những lời an ủi của Đức Giê-su trong suốt chương 14 như thể là: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở… Thầy đi là dọn chỗ cho anh em” (14,2); “Thầy lại đến đón anh em về với Thầy” (14,3). Đó có thể là lời hứa gửi Đấng Bảo Trợ khác: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở cùng anh em luôn mãi” (14,16.26). Đó cũng có thể là lời hứa trao ban bình an: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (14,27). Tuy nhiên, trong bối cảnh trực tiếp “Những điều này” có thể là “tình yêu” tuyệt đối mà Đức Giê-su dành cho các môn đệ,[5] và cả lời mời gọi “hãy ở lại trong tình yêu” của Đức Giê-su nữa. Đức Giê-su yêu thương các môn đệ bằng tình yêu của Chúa Cha dành cho Người. Đó là phúc phần và là niềm vui của các môn đệ. Theo C. Barrett, niềm vui của Đức Giê-su triển nở lòng vâng phục đối với Cha và sự hiệp nhất với Cha trong tình yêu. Dấu hiệu của của sự vâng phục và tình yêu là việc Đức Giê-su về cùng Cha. Điều này làm cho các môn đệ vui mừng (Ga 14,28).[6] Niềm vui của Đức Giê-su trong bối cảnh này chính là cảm nhận tình yêu của Chúa Cha dành cho Người. Người dành tình yêu ấy cho các môn đệ và đem lại chính xác niềm vui ấy cho các môn đệ. Tuy nhiên, để niềm vui ấy được nên trọn vẹn thì các môn đệ phải nghe theo lời mời gọi của Đức Giê-su. Tức là họ phải ở lại, chìm đắm trong tình yêu của Đức Giê-su bằng cách “giữ các điều răn của Người” như cách thức Đức Giê-su giữ các điều răn của Cha Người và ở lại trong tình thương của Cha Người. Liên từ “kathos” (καθὼς) (giống như, hệt như, cùng một cách thức), một lần nữa nâng cao cách thức, mức độ “giữ điều răn”, và “ở lại” của các môn đệ lên mức cao nhất, bằng cách thức hoàn hảo nhất, bởi vì nó phải vươn đến cấp độ “hệt như Đức Giê-su đã giữ các điều răn của Cha và ở lại trong tình thương của Cha”. Đức Giê-su luôn mong muốn niềm vui của các môn đệ được nên trọn vẹn. Người khuyến khích các môn đệ hãy cầu xin nhân danh Người “để niềm vui của họ nên trọn vẹn” (16,24).
  5. “Điều răn” của Đức Giê-su:Hãy yêu thương nhau như Tôi đã yêu thương anh em”. “Sau khi nói đến “niềm vui” và viễn ảnh “một niềm vui trọn vẹn”, và lời mời gọi “hãy ở lại trong tình yêu của Người” với điều kiện là “giữ các điều răn của Người”, Đức Giê-su giải thích cụ thể điều răn của Người là gì. Đó là: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (ἀγαπᾶτε ἀλλήλους καθὼς ἠγάπησα ὑμᾶς). Đây chính là điều răn mới mà Đức Giê-su đã ban cho các môn đệ vào phần đầu của “diễn từ từ biệt”: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em yêu thương nhau; như Thầy đã yêu thương anh em, để mà anh em có thể yêu thương nhau” (13,34). “Điều răn mới” của Đức Giê-su được nhấn mạnh thêm ngay sau đó: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (13,35). Điều răn này cũng được đưa ra trong bối cảnh ngay sau khi Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ (13,1-11) và Đức Giê-su đã cắt nghĩa rằng: “nếu Thầy là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em phải rửa chân cho nhau” (13,14). Trong bối cảnh này, khi mời gọi các môn đệ “ở lại trong tình thương của” Người bằng cách giữ “các điều răn” của Người, Đức Giê-su lặp lại “điều răn mới” mà Người đã trao ban cho các môn đệ. Chúng ta có thể thấy được một sự nối kết trong giáo huấn của Đức Giê-su. Chúa Giê-su yêu thương các môn đệ – Các môn đệ được mời gọi ở lại trong tình thương của Đức Giê-su – ở lại với điều kiện là giữ các điều răn của các môn đệ – điều răn của Đức Giê-su là “Yêu thương nhau như” Đức Giê-su “đã yêu”. Giữ điều răn của Đức Giê-su là “yêu thương nhau”. “Yêu thương nhau” tức là ở lại trong tình yêu của Đức Giê-su. Có một mối liên hệ chặt chẽ khép kín giữa tình yêu của Chúa Cha – Đức Giê-su – Các môn đệ: Cha yêu Giê-su – Giê-su yêu các môn đệ – môn đệ yêu nhau – Yêu nhau là ở lại trong tình yêu của Đức Giê-su – Tình yêu của Đức Giê-su là tình yêu mà Chúa Cha dành cho Người. Chính vì thể mà thánh Gioan đã xác tín: “Thiên Chúa là tình yêu, ai ở trong tình yêu là ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy” (1Ga 4,16).
  6. “Như Tôi đã yêu thương”: Tính mới mẻ của điều răn của Đức Giê-su nằm ở điểm này: “hệt như Thầy đã yêu anh em” (καθὼς ἠγάπησα ὑμᾶς). Một lần nữa liên từ “Kathos” (như là, giống như, cùng một cách thức) lại được sử dụng, để diễn tả cách thức và mức độ mà tình yêu của các môn đệ dành cho nhau phải vươn tới. Động từ “aorist” (đã yêu thương) diễn tả một thực tế, một sự kiện đã xảy ra rồi.[7] Barrett ghi chú rằng trong bối cảnh trực tiếp của 13,34 động từ này diễn tả hành động rửa chân mới xảy ra trước đó, nhưng trong bối cảnh này nó có thể nói đến cái chết của Đức Giê-su và hành động yêu thương này phải là tiêu chuẩn tối cao của tình yêu của các ki-tô hữu.[8] Như đã nói trên, trong Tin Mừng Nhất Lãm Đức Giê-su đã đề cập đến điều răn quan trọng nhất trong các điều răn. Đó là “Yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của Ngươi, hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn ngươi” (Mt 22,37; Mc 12,30; Lc 10,27a). Đây là điều răn được nói đến trong sách Đệ Nhị Luật (Dt 6,5) và được sách Giô-suê nhắc lại (Gs 22,5). Đức Giê-su cũng nhắc tới điều răn thứ hai “cũng giống như điều thứ nhất” là: “phải yêu mến người thân cận như chính mình” (ἀγαπήσεις τὸν πλησίον σου ὡς σεαυτόν) (Mt 22,38; Mc 12,31; Lc 10,27b). Điều răn này được nói đến trong sách Lê-vi: “Ngươi phải yêu mến người hàng xóm của ngươi như chính mình vậy” (Lv 19,18). Chẳng những thế sách Lê-vi còn nói thêm là “phải yêu người xa lạ cư ngụ với ngươi, và yêu anh ta như chính mình vì ngươi đã từng là ngoại kiều trên đất Ai-cập” (Lv 19,34). Trong điều răn của mình Đức Giê-su không đề cập đến việc “yêu mến Đức Chúa”, tức là phần chiều dọc, chiều đứng của điều răn. Người chỉ nhấn mạnh đến chiều ngang. Đối tượng mà các môn đệ phải yêu thương không phải là “người ngoại kiều” hay “người hàng xóm” nhưng là “lẫn nhau” (ἀλλήλους). Đây là tình yêu giữa các thành viên của công đoàn các môn đệ. Điểm quy chiếu cho tình yêu này không còn là “như chính mình” (ὡς σεαυτόν) nữa, mà là “như Tôi đã yêu anh em”. Tình yêu của Đức Ki-tô dành cho các môn đệ chính là tiêu chuẩn là cách thức và mức độ cho tình yêu mà các thành viên của cộng đoàn các môn đệ dành cho nhau.[9] Theo Lê Minh Thông, liên từ “kathos” không diễn tả sự so sánh bình thường nhưng nói đến ý nghĩa thần học quan trọng: “tình yêu của Đức Giê-su là nguồn gốc và nền tảng của tình yêu giữa các môn đệ với nhau”.[10] Tình yêu đó như thế nào? Đức Giê-su sẽ diễn tả trong câu tiếp theo.
  7. “Hy sinh mạng sống vì những người bạn”. Tính từ so sánh “lớn hơn”, “vĩ đại hơn” (μείζονα) được đặt ngay đầu câu cùng với đại từ bất định phủ định (không điều gì) để nhấn mạnh tình yêu mà Đức Giê-su muốn nói đến: “không có bất cứ tình yêu nào vĩ đại hơn tình yêu này, là một người nào đó dám hy sinh tính mạng của anh ta vì những người bạn của mình”. Nghĩa là đây là tình yêu lớn nhất vĩ đại nhất, là tình yêu của kẻ dám chết vì “những người bạn” của mình. Người có tình yêu vĩ đại ấy trước nhất chính là Đức Giê-su. Người cũng đã ví mình như vị mục tử nhân lành, người hy sinh tính mạng cho đoàn chiên của mình (Ga 10,11.15). Đây chính là lý do mà Chúa Cha yêu thương Người Con: là vì Người Con “hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại” (Ga 10,17). Đây chính là tình yêu của chính Đức Giê-su, Người đã chết cho nhân loại. Cái chết của Đức Giê-su trên thập giá là hành động chết thay cho nhân loại. Quả vậy, cái chết của Người trên thập giá đã chuộc tội cho nhân loại, và mang lại cho họ ơn cứu độ, để họ có thể chia sẻ sự sống đời đời với Người. Máu Đức Giê-su là “máu giao ước” đã đổ ra cho “nhiều người được tha tội” (Mt 26,28; Mc 14,24; Lc 22,20; 1 Cr 12,25). Các tín hữu được công chính hóa nhờ máu Đức Giê-su (Rm 5,9). Họ được cứu độ nhờ máu của Người (Eph 1,7; 2,3). Thánh Gioan xác tín rằng, chính máu của Đức Giê-su “rửa sạch muôn vàn tội lỗi của chúng ta” (1 Ga 1,7). Ông cũng đưa ra cơ sở để biết tình yêu là gì: “căn cứ vào điều này chúng ta biết được tình yêu là gì: Đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta” (1Ga 3,16). Thiên Chúa đã yêu chúng ta và đã sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10). Trong thư gửi ông Ti-tô, thánh Phao-lô cũng đã tin rằng Đức Giê-su Ki-tô đã trao ban chính mình cho chúng ta “để Người có thể cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi và thanh tẩy cho Người một dân, dân nhiệt thành với những việc tốt lành” (Tt 2,14). Thánh Phao-lô cũng xác tín rằng: “khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Ki-tô đã chết cho chúng ta” (Rm 5,8; 1 Cr 15,3). Có thể nói rằng, trong mọi hình thức hy sinh, thì hy sinh mạng sống là hy sinh ở mức cao nhất, là tận cùng của sự trao ban, vì “hết mạng”, “mất mạng” rồi thì người ta chẳng có gì nữa để hy sinh và trao ban nữa. Tác giả Lê Minh Thông đã so sánh 3 loại hy sinh trong nhân loại: (1) Sự hy sinh mạng sống của cha mẹ cho con cái; (2) Vợ chồng hy sinh mạng sống cho nhau; (3) Người cứu hộ hy sinh cho người được cứu hộ; với sự hy sinh mạng sống cho “những người bạn” của Đức Giê-su. Ông cho rằng ba sự hy sinh của con người cho nhau không ở “trên cùng một bình diện” với sự hy sinh của Đức Giê-su vì địa vị và nguồn gốc của Đức Giê-su là duy nhất. “Người hy sinh mạng sống và có khả năng lấy lại”.[11] Sự hy sinh mạng sống này chỉ xảy ra khi tình yêu đạt đến mức thập toàn. Đức Giê-su dám hy sinh tính mạng vì “những người bạn” của mình vì Người yêu họ như thể “Cha đã yêu” Người. Tình yêu của Cha dành cho Người hẳn là một tình yêu tuyệt đối, thập toàn không một tình yêu nào trên trần gian này có thể sánh được. Đó cũng có thể là lý do khiến sự hy sinh mạng sống của Đức Giê-su khác biệt với những hy sinh của con người cho nhau. Hơn nữa, tầm ảnh hưởng và hiệu quả của sự hy sinh của Đức Giê-su là phổ quát, ở cấp độ toàn nhân loại. Tất cả mọi người chứ không chỉ riêng ai được hưởng nhờ ơn cứu độ nhờ cái chết của Người.
  8. “Những người bạn” (φίλος)[12]: Sau khi đã dùng cách nói “chết cho những người bạn của mình”, theo cấu trúc bậc cấp, Đức Giê-su tiếp tục làm rõ, “những người bạn” này là ai. Họ chính là “các môn đệ”: “Anh em là bạn hữu của Thầy… Thầy gọi anh em là bạn hữu của Thầy”. Danh từ “người bạn” (φίλος) xuất hiện 6 lần trong Tin Mừng thứ tư và có đến một nữa số lần đó (3 lần) là ở trong đoạn văn này (15,13.14.15).[13] Điều đó ngụ ý rằng đề tài “bạn hữu” là một trong những chủ đề quan trọng trong đoạn này. Danh từ “người bạn” (φίλος) có cùng gốc với động từ “philêô” (φιλέω). Động từ này xuất hiện 13 lần[14] trong Tin Mừng thứ tư. Theo tác giả Lê Minh Thông, động từ này có thể hiểu theo nghĩa là “thương mến” (11,3), “thương” (13,6), “yêu” (12,25), hay “yêu thích” (15,19).[15] Động từ này có thể dùng để diễn tả tình yêu của Chúa Cha dành cho Đức Giê-su: “Cha yêu Người Con và cho Người thấy tất cả những gì Ngài đang làm” (Ga 5,20); hoặc là tình yêu Chúa Cha dành cho các môn đệ: “Cha yêu thương anh em vì anh em đã yêu mến Thầy và tin rằng Thầy đến từ Cha” (16,27). Động từ này cũng được dùng để diễn tả tình yêu của Đức Giê-su dành cho La-da-rô. La-da-rô được Đức Giê-su gọi là “bạn của chúng ta” (ὁ φίλος ἡμῶν) (Ga 11,11). Những người chị của La-da-rô gửi người đến nói với Đức Giê-su rằng: “Thầy ơi! Người mà Thầy thương mến (ὃν φιλεῖς) đang bệnh” (Ga 11,3). Điều đó chứng tỏ rằng “tình bạn” này bao hàm một tình yêu mến. Cách hiểu này có thể lý giải cho mối tương quan giữa Đức Giê-su và các môn đệ trong bối cạnh này. Đức Giê-su gọi các môn đệ là “những người bạn” không phải theo nghĩa thông thường nhưng có mối tương quan “thương mến” mật thiết. Tôi đề xuất gọi “những người bạn” này bằng cụm từ “những người thân thương”.[16] “Những người thân thương này” đối lại với “những tôi tớ”. Điều làm nên sự khác biệt giữa “những người thân thương” của Đức Giê-su với các tôi tớ là sự hiểu biết “các công việc”. “Các đầy tớ không biết việc chủ làm” trong khi đó “những người thân thương” được Đức Giê-su tỏ cho biết tất cả những gì Người nghe được nơi Cha của Người” (15,15). Như thế, theo Gioan, sự khác biệt giữa một “tôi tớ” và một “người thân thương” không hệ tại ở việc làm hay không làm ý Chúa nhưng phụ thuộc vào việc hiểu hoặc không hiểu ý Người.[17] Điều kiện để các môn đệ trở thành “những người thân thương” của Đức Giê-su là “làm những điều” Người truyền dạy (15,14). “Những điều Đức Giê-su truyền dạy” có thể là toàn bộ giáo huấn của Đức Giê-su. Tuy nhiên, trong bối cảnh trực tiếp, rất có thể đó là “điều răn của” Đức Giê-su. Cũng nên biết thêm là động từ truyền dạy (ἐντέλλομαι) có cùng gốc với danh từ “điều răn” (ἡ ἐντολὴ). Vì thế, các điều răn cũng có thể được hiểu là “những lời truyền dạy”. Động từ “truyền dạy” lại được nhắc lại một lần nữa ở câu cuối nhằm đóng khung đoạn này (15,9-17) trong lệnh truyền “hãy yêu thương nhau của” của Đức Giê-su: “Tôi truyền những điều này cho anh em rằng anh em hãy yêu thương nhau” (15,17).
  9. “Chọn – ra đi – sinh hoa trái”

Theo cấu trúc “bậc cấp” được đề xuất ở trên, thành phần “chọn lựa – ra đi – sinh nhiều hoa trái” có cùng cấp với thành phần “những người thân thương” (B3//B3’’//B3’’’). “Những người thân thương” cũng là “những người môn đệ”. Thẩm quyền chọn lựa thuộc về Đức Giê-su: “không phải anh em đã chọn Tôi nhưng chính tôi đã chọn anh em”. Động từ “chọn” (ἐκ-λέγομαι), lối trình bày, thì aorist với chủ từ là Đức Giê-su được dùng 4 lần trong Tin Mừng Gioan (ἐξελεξάμην). Lần thứ nhất, Đức Giê-su nhìn nhận chính Người đã tuyển chọn nhóm Mười Hai: “Không phải chính Tôi đã chọn anh em, nhóm Mười Hai sao? Tuy vậy, một người trong anh em là quỷ.” (6,70). Lần thứ hai, cũng liên quan đến “nhân vật quỷ này”: “Tôi biết những người tôi đã chọn, nhưng để Thánh Kinh được nên trọn, ‘Người ăn bánh của Tôi lại giơ gót chân chống lại Tôi” (13,18). Lần thứ ba, chính là trong đoạn này: “Chính Tôi đã chọn anh em” (15,16). Và lần cuối cùng, thái độ thù ghét của thế giới đối với các môn đệ là vì họ được chọn từ giữa thế gian và không thuộc về thế gian: “Anh em không thuộc về thế gian nhưng Tôi đã chọn anh em từ giữa thế gian. Vì thế, thế gian ghét anh em” (15,19). Rõ ràng, tác giả Tin Mừng thứ tư, đã cho thấy rõ thẩm quyền chọn lựa các môn đệ nằm ở Đức Giê-su. Tác giả Luca cũng cho thấy Đức Giê-su, sau khi đã cầu nguyện suốt đêm, đã “chọn” trong số các môn đệ, làm thành nhóm Mười Hai, mà Người gọi là các Tông Đồ (Lc 6,12-13). Mác-cô cũng trình thuật tương tự: Đức Giê-su gọi đến với Người những kẻ Người muốn, Người lập Nhóm Mười Hai, “để các ông ở với Người và Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3,13-19; Cf. Mt 10,1-4). Ngoài ra, các tác giả Nhất Lãm còn tường thuật việc Đức Giê-su chọn gọi 4 môn đệ đầu tiên: Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê và Gioan (Mc 1,16-20; Mt 4,18-22; Lc 5,1-11); Rồi Người gọi ông Lê-vi (Mát-thêu) khi ông đang hành nghề thu thuế (Mc 2,13-14; Mt 9,9; Lc 5,27-28). Tin Mừng thứ tư không có tường thuật về việc gọi 4 môn đệ đầu tiên và Lê-vi cách gọn gàng như Tin Mừng Nhất Lãm. Tuy nhiên, ông cũng kể về việc có hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả đã “đến và xem” nơi ở của Đức Giê-su một ngày (Ga 1,35-39). Một trong hai người đó là An-rê. An-rê dẫn em mình là Phê-rô đến với Đức Giê-su (Ga 1,40-42). Đức Giê-su gọi riêng Phi-líp-phê (Ga 1,43). Phi-líp-phê lại giới thiệu Đức Giê-su với Nathanael (Ga 1,45). Rồi, Nathanael tìm gặp Đức Giê-su và được Đức Giê-su thuyết phục (Ga 1,47-51). Đức Giê-su cũng nắm vai trò chủ động thu hút và tuyển chọn các môn đệ trong những trình thuật này. Tuyển chọn là để sai đi. Mục đích “để sai đi” này được nói rõ trong Tin Mừng Mác-cô: “Để các ông ở với Người và Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3,14). Tin Mừng Nhất Lãm đồng loạt kể về hành động sai đi của Đức Giê-su: “Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2); “Người sai các ông đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ” (Mc 6,7); “Đức Giê-su sai Mười Hai ông đi và dặn rằng: ‘anh em hãy đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của Samari. Tốt hơn hết hãy đến với các con Chiên lạc nhà Ít-ra-el”’ (Mt 10,5-6). Tin vui mà họ mang đến cho người ta là “Tin Mừng Nước Thiên Chúa”, “Nước Trời đã đến gần”, và các phép lạ chữa lành bệnh tật và trừ quỷ. Đây có thể là những hoa trái mà Đức Giê-su nói đến trong Tin Mừng Gioan. Đề tài “sinh hoa trái” trong đoạn này (Ga 15,9-17) nối tiếp với cùng đề tài trong đoạn trước đó (15,1-8): Cành nho sinh hoa trái (15,2a.2b.4b) // Các môn đệ sinh hoa trái (15,4c.5b.8). Hoa trái trong bối cảnh này rất có thể là hoa trái tình yêu, vì trước đó các môn đệ được mời gọi “ở lại trong tình yêu của” Đức Giê-su và muốn ở lại trong tình yêu của Đức Giê-su thì các môn đệ phải “giữ các điều răn của Đức Giê-su”. Điều răn của Đức Giê-su là “Yêu nhau như Đức Giê-su đã yêu”. “Như Đức Giê-su đã yêu nghĩa là chết cho “những người thân thương” của mình. Đến cuối cùng, hoa trái mà Đức Giê-su muốn nói đến rất có thể là hoa trái yêu thương, là yêu cho đến chết vì “những người thân thương” của mình. Và hoa trái ngọt ngào của tình yêu cao thượng này sẽ tồn tại mãi.

  1. “Để: Xin nhân danh Tôi – Cha sẽ ban cho”

Kiểu nói này rất giống với kiểu nói ở đoạn trước đó (15,1-8): “Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, anh em cứ xin điều anh em muốn, nó sẽ xảy ra cho anh em” (15,7). Chủ đề, tạm gọi là, “xin – được” nối kết đoạn văn này với đoạn văn trước đó. Tuy vậy, vẫn có nhiều điều rất khác biệt giữa quy trình “xin – được” trong đoạn này và trong đoạn trước đó. Có ít nhất 4 điểm khác biệt: (1) Đối tượng các môn đệ hướng đến là Cha; (2) Tác nhân mà các môn đệ phải cậy nhờ là “nhân danh” Đức Giê-su; và (3) Người ban là Cha; (4) (những) Tiền đề của mệnh đề mục đích này. 3 điểm đầu tiên không được đề cập đến trong quy trình “Xin – được” ở 15,7. Hơn nữa, tiền đề của quy trình “xin – được” trong 15,7 khá rõ ràng: “Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em”, trong khi đó tiền đề cho quy trình “Xin – được” ở đây (15,16) khá phức tạp vì câu văn ở đây là một câu văn dài kết hợp giữa câu ghép và câu phức với nhiều liên từ dùng cho câu ghép, “và” (καὶ) –“nhưng” (ἀλλα), cùng với 2 mệnh đề chỉ mục đích.[18] Quy trình “Xin – được” là một mệnh đề chỉ mục đích bắt đầu bằng liên từ bổ trợ “để mà” (ἵνα): “Để mà (ngõ hầu) bất cứ điều gì anh em xin cùng Cha, nhân danh Thầy, Cha có thể ban cho anh em”. Phải hiểu tiền đề của mệnh đề mục đích này như thế nào đây? Có ít nhất là 3 giải pháp cho tiền đề của mệnh đề chỉ mục đích này.[19] Giải pháp I: “Mệnh đề chỉ mục đích” này có thể đi theo tiền đề là một loạt hành động trước đó: Không phải các môn đệ đã chọn Đức Giê-su nhưng Đức Giê-su chọn các môn đệ và sắp đặt để họ ra đi sinh hoa trái, và để hoa trái của họ duy trì. Giải pháp II: “Mệnh đề mục đích” này (để điều anh em xin…) kết hợp với mệnh đề chỉ mục đích trước đó (để anh em ra đi…) có chung một tiền đề là: “Không phải các môn đệ đã chọn Đức Giê-su nhưng Đức Giê-su chọn các môn đệ và sắp đặt”. Nghĩa là, Đức Giê-su tuyển chọn và sắp đặt/ (1) “Để các môn đệ ra đi và sinh hoa trái…” và/ (2) Để điều họ xin cùng Cha…”. Giải pháp III: Mệnh đề chỉ mục đích thứ nhất chính là tiền đề của mệnh đề chỉ mục đích thứ hai. Nghĩa là: “để anh em ra đi và sinh hoa trái và hoa trái của anh em duy trì, để điều anh em xin Cha nhân danh của Tôi, Ngài có thể ban cho anh em.”[20] Tùy theo cách hiểu tiền đề mà độc giả có thể đoán được đâu là điều kiện phải có để đạt được mục đích “xin – được” như Đức Giê-su đã hứa. Chúng có thể là một tiến trình bắt đầu từ việc tuyển chọn của Đức Giê-su cho đến việc hoa trái yêu thương duy trì. Chúng cũng có thể là hiệu quả của việc sinh hoa trái yêu thương và hoa trái ấy duy trì. Mục đích ấy cũng có thể đạt được chỉ nhờ vào sự tuyển chọn và sắp đặt của Đức Giê-su. Tôi nghiêng về giải pháp thứ nhất hơn, bởi nó có vẻ đầy đủ và logic hơn. Muốn Cha ban cho tất cả những điều mình xin nhân danh Đức Giê-su thì phải được Đức Giê-su tuyển chọn, và sai đi. Được sai đi thì phải sinh nhiều hoa thơm trái ngọt, hoa thơm trái ngọt này phải có “hạn sử dụng” lâu dài.

Hy Lạp Việt
Ga 15,16 οὐχ ὑμεῖς με ἐξελέξασθε, ἀλλ᾽ ἐγὼ ἐξελεξάμην ὑμᾶς καὶ ἔθηκα ὑμᾶς

ἵνα ὑμεῖς ὑπάγητε καὶ καρπὸν φέρητε καὶ ὁ καρπὸς ὑμῶν μένῃ,

ἵνα ὅ τι ἂν αἰτήσητε τὸν πατέρα ἐν τῷ ὀνόματί μου δῷ ὑμῖν.

16 Không phải anh em đã chọn tôi, nhưng tôi đã chọn anh em và sắp đặt,

để anh em ra đi và sinh hoa trái và hoa trái của anh em duy trì,

để điều anh em xin Cha nhân danh của Tôi, Ngài có thể ban cho anh em.

 

  1. “Nhân danh tôi”: Cụm giới từ “nhân danh tôi” (ἐν τῷ ὀνόματί μου) (Tôi = Giê-su) là một cụm từ đặc trưng của Gioan. Có 8 lần cụm từ này được sử dụng trong Tin Mừng Gioan, trong đó có đến 6 lần cụm từ này đi kèm với động từ “hỏi, xin” (αἰτέω): “Xin nhân danh tôi”. Trong 6 lần “xin nhân danh tôi”, có 3 lần đối tượng mà các môn đệ phải cầu xin là Chúa Cha (cầu xin Cha nhân danh Đức Giê-su): “Để tất cả những gì anh em cầu xin Cha nhân danh tôi, Người có thể ban cho anh em” (15,16); “quả thật, tôi bảo anh em, bất cứ điều gì anh em cầu xin Cha nhân danh tôi, Người sẽ ban nó cho anh em” (16,23); “vào ngày đó anh em sẽ cầu xin nhân danh tôi và tôi không bảo anh em rằng tôi sẽ cầu xin Cha thay cho anh em” (16,26). Còn 3 lần khác, đối tượng mà các môn đệ phải cầu xin là chính Đức Giê-su (Cầu xin Đức Giê-su, nhân danh Đức Giê-su): “Bất cứ điều gì anh em xin nhân danh tôi, tôi sẽ làm điều đó, để Cha có thể được tôn vinh nơi Người Con” (14,13.14); “Cho đến bây giờ anh em chưa xin điều gì nhân danh tôi, hãy xin, anh em sẽ nhận được, để niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (16,24). Có hai lần cụm từ “nhân danh tôi” không được đi kèm với động từ “hỏi, xin” nhưng đi kèm với hai động từ quan trọng “sai đến” và “có sự sống”: “Đấng Bảo Trợ, Thánh Thần, Đấng mà Cha sẽ sai đến nhân danh tôi, Người sẽ dạy anh em tất cả mọi điều và làm cho anh em nhớ lại tất cả mọi điều tôi đã nói với anh em” (14,26); “tất cả những điều được viết để anh em có thể tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà anh em có thể có sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31).

Bình luận chung

Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh (Ga 15,9-17) tràn ngập yêu thương. Đoạn văn khởi đầu bằng hành động “yêu thương” và kết thúc cũng bằng lời mời gọi “yêu thương”: “Hệt như Cha yêu thương tôi, tôi cũng yêu thương anh em” (15,9) – “tôi truyền cho anh em những điều này để anh em có thể yêu thương nhau” (15,17). Xuyên suốt đoạn văn, có 5 lần động từ “yêu thương” được sử dụng (15,9a.9b.12a.12b.17). Thêm vào đó, danh từ “tình yêu” được sử dụng 4 lần. 9 lần từ vựng liên quan đến “yêu thương” được sử dụng trong một đoạn văn gồm 9 câu (cc.9-17). Như thế, có thể nói rằng ứng với một câu văn thì có một từ vựng liên quan đến yêu thương. Chưa hết, từ vựng “người bạn” cũng có gốc từ động từ “yêu thương” hay “thương mến” như đã phân tích ở trên. Trên cơ sở đó, danh từ “những người bạn” được đề nghị hiểu là “những người thân thương”. Danh từ “những người thân thương” xuất hiện 3 lần trong đoạn văn này. Vậy là từ ngữ liên quan đến yêu thương đã lên đến con số 12 chứ không còn là 9 nữa. Nói như thế để hiểu rằng, tác giả đã cố ý xây dựng đoạn văn này quanh chủ đề yêu thương. Nói theo ngôn ngữ Phụng Vụ thì, Tin Mừng Chúa Nhật này xoay quanh chủ đề yêu thương. Nói theo ngôn ngữ thần học, đoạn văn này là một mạc khải về vòng tròn tình yêu của Cha – Đức Giê-su – môn đệ. Theo thần học chuyên biệt (Ki-tô học) thì có thể gọi đây là mầu nhiệm tình yêu cứu độ: chết cho người mình yêu. Còn nói theo kiểu văn học, có thể gọi đây là một câu chuyện tình lâm li bi đát trong thế gian.

Trong đoạn văn trước (15,1-8) độc giả đã từng nghe đến “vòng tròn tình yêu cứu độ khép kín”, Từ Cha – Đức Giê-su – Các môn đệ: Người Cha là người trồng nho – Đức Giê-su là cây nho – Các môn đệ là những cành nho – những cành nho ở lại trong Đức Giê-su và được Cha cắt tỉa – sinh nhiều hoa trái – nhiều hoa trái mang lại vinh quang cho Cha.[21] Đoạn văn 15,9-17 cũng là một vòng tròn tình yêu khép kín như thế: “Cha yêu Người Con – Người Con yêu các môn đệ bằng tình yêu Cha dành cho mình – các môn đệ ở lại trong tình yêu của Người Con – Ở lại trong tình yêu của Người Con đồng nghĩa với việc giữ các điều răn của Người Con – điều răn của Người Con là: “Yêu thương nhau hệt như” Người con đã yêu họ – “hệt như” Người Con “đã yêu” là: “Hy sinh tính mạng vì những người thân thương” – “Những người thân thương” là những môn đệ – Những môn đệ được chọn, được sắp đặt để ra đi và sinh hoa trái và hoa trái còn mãi – hoa trái yêu thương còn mãi chính là dấu hiệu cho sự ở lại trong Tình yêu của Cha dành cho Người Con.

Tác giả Gioan đã dùng liên từ so sánh “kathos” (Καθὼς) (hệt như, cùng cách thức) để đồng hóa một cách tài tình tình yêu của Người dành cho các môn đệ với tình yêu của Cha dành Cho Người. Hai tình yêu này không hề khác nhau. Có lẽ, không ai thấy và cảm nghiệm được tình yêu của Cha dành cho Đức Giê-su nhưng độc giả và các môn đệ chắc chắn cảm nghiệm và hiểu tình yêu của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Đó là tình yêu ở mức độ cao nhất, sự cao thượng đạt cảnh giới cao nhất. Không có một tình yêu nào có thể so sánh với tình yêu ấy: Tình yêu của Người dám hy sinh tính mạng vì “người thân thương của mình”. Hỵ sinh mạng sống là tận cùng của sự hy sinh bởi vì người ta không còn gì hơn để hy sinh hơn nữa. Cũng với liên từ này, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ vươn tới mức độ yêu thương của Người và của Cha Người: “hệt như (kathos) Người đã yêu họ”. Họ được mời gọi ở lại trong tình yêu của Đức Giê-su bằng cách sẵn sàng chết cho “những người thân thương” của mình. Chính khi chết đi theo cách thức như thế các thành viên của cộng đoàn môn đệ lại giữ được mạng sống ấy: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai ghét mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giự được nó cho sự sống đời đời” (Ga 12,25; Cf. Mc 8,35; Mt 16,25; Lc 9,24). Đức Giê-su còn nhấn mạnh rằng: “quả thật, tôi bảo thật anh em, nếu hạt lúa mình rơi xuống không chết đi thì nó trơ trọi một mình, còn nếu nó chết đi, nó mới sinh nhiều hoa trái” (Ga 12,24). Như thế, “Sinh hoa trái” mà Đức Giê-su muốn nói ở đoạn này (15,9-17) cũng như đoạn trước đó (15,1-8) bao hàm cả sự “chết đi”. Cái chết này là cái chết cho “những người thân thương” chứ không phải cái chết của những người chán sống và chết vô nghĩa.

Joseph Phạm Duy Thạch, SVD

Chú thích:

[1] Xem thêm cấu trúc của Tin Mừng thứ tư trong, Joseph Phạm Duy Thạch, “Cây Nho Giê-su, Cành Nho Môn Đê và Vinh Quang của Chúa Cha”, HORIZON MISSIONARY: CÂY NHO GIÊ-SU, CÀNH NHO MÔN ĐỆ, VÀ VINH QUANG CỦA CHÚA CHA (josephpham-horizon.blogspot.com) (truy cập ngày 04/05/2021).

[2] C.S. Keener, The Gospel of John. A Commentary (Grand Rapids 2012) I, 1003.

[3] G. Beasley – Murray xem việc giữ các điều răn của Cha là thể hiện sự vâng lời và sự vâng lời này lên đỉnh khi Người trao ban mạng sống cho nhân loại [G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 273].

[4] C.K. Barrett, The Gospel According to St. John. An Introduction with Commentary and Notes on the Greek Text (Philadelphia 1978) 476.

[5] R. Brown nghĩ rằng “the statement “I have loved you” in 9 is the real basis of the joy in 11” [R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes (AYB; New Haven – London 2008) 29A, 663].

[6] C.K. Barrett, The Gospel According to St. John, 476.

[7] R. Brown giải thích cách dùng của thì aorist  ở đây nhằm “prepares the way for the supreme act of Jesus’ love to be mentioned in the next verse” (R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI), 664).

[8] C.K. Barrett, The Gospel According to St. John. An Introduction with Commentary and Notes on the Greek Text (Philadelphia 1978) 452.

[9] G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 274.

[10] Lê Minh Thông, “Ga 15,9-13. Dòng Chảy Tình Yêu giữa Cha, Đức Giê-su, và Các Môn Đệ”, Tin Mừng Gio-an, Évangile de Jean, Gospel of John: Ga 15,9-13. Dòng chảy tình yêu giữa Chúa Cha, Đức Giê-su, các môn đệ (leminhthongtinmunggioan.blogspot.com) (Truy cập 04/05/2021).

[11] Lê Minh Thông, nguồn đã dẫn.

[12] Trong Cựu Ước Áp-ra-ham được gọi là “người bạn của Chúa” (Is 41,8; 2 Sbn 20,7; Gc 2,23); Mô-sê cũng là bạn của Chúa (Xh 33,11).

[13] Ba lần còn lại: Gioan Tẩy Giả dùng danh xưng “Bạn của chàng rể” để diễn tả tương quan giữa ông và Đức Giê-su (3,29); La-da-rô là “bạn” của Đức Giê-su và các môn đệ (11,11); và “bạn của hoàng đế Xê-da”: Nếu ông tha cho người này, ông không phải là bạn của Xê-da (Ga 19,12).

[14] 5,20; 11,3.36; 12,25; 15,19; 16,27a.27b; 20,2; 21,15.16.17a.17b.17c.

[15] Lê Minh Thông, “Đề tài tình yêu và tình bạn (TM Gioan)”, Tin Mừng Gio-an, Évangile de Jean, Gospel of John: Đề tài tình yêu và tình bạn (TM Gio-an) (leminhthongtinmunggioan.blogspot.com) (truy cập 04/05/2021).

[16] R. Brown dịch từ “φίλος” là “those he loves” [R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI), 664]. Ông cũng cho rằng “những người thân thương” của Đức Giê-su là tất cả các tín hữu (R.E. Brown, The Gospel according to John, 682).

[17] C.K. Barrett, The Gospel According to St. John, 477.

[18] Cũng nên biết thêm là vấn đề phân chia các chương của các sách Tân Ước chỉ có từ thế kỷ thứ 13 (1226), do Linh mục Stephen Langton, sau này là Tổng Giám Mục Canterbury (Anh); và sự phân chia các câu chỉ có từ thế kỷ thứ 16 (1551), do ông Robert Estienne (Pháp), chuyên về nghề in [Lm. Thê-ô-phi-lô Ngô Hoàn Cầu, SVD, Ngưỡng Cửa Vào Sách Tin Mừng. Ki-tô hữu đọc sách Thánh (Hà Nội 2020) 72].

[19] R. Brown lưu ý về sự phân rẻ giữa các nhà chú giải liên quan đến hai “mệnh đề mục đích” [R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI), 665].

[20] C. Keener chọn giải pháp này (C.S. Keener, The Gospel of John, 1016); C. Barrett có cùng suy nghĩ với Keener, (C.K. Barrett, The Gospel According to St. John, 478).

[21] Xem thêm, Joseph Phạm Duy Thạch, “Cây Nho Giê-su, Cành Nho Môn Đệ và Vinh Quang của Chúa Cha”, HORIZON MISSIONARY: CÂY NHO GIÊ-SU, CÀNH NHO MÔN ĐỆ, VÀ VINH QUANG CỦA CHÚA CHA (josephpham-horizon.blogspot.com) (truy cập 04/05/2021).

Bài trướcLỜI SỐNG (3/5, Thánh Philipphê và Giacôbê TĐ, Lễ kính)
Bài tiếp theoLỜI SỐNG (Thứ Bảy, Tuần 5 Phục Sinh)