Học cho biết thế nào là vâng phục

0
265

✍️ Tu sĩ Giuse Nguyễn Đình Trường
– Học Viện Ngôi Lời

Cuốn sách Kinh hãi và run sợ của triết gia Kierkegaard[1] bắt đầu với những dòng sau đây: Ngày xưa, có một người khi còn bé được nghe kể rằng ông Ápraham bị Thiên Chúa thử thách, nhưng đã giữ vững lòng tin, nên đã hai lần nhận được đứa con yêu của mình. Khi đứng tuổi, người nọ đọc lại câu truyện và càng lấy làm cảm kích lắm. Dần dần người đó quên hết mọi sự, và chỉ còn một nguyện vọng này: Được xem thấy ông Ápraham. Người ấy không mong được xem thấy những miền xa lạ của Đông phương, cũng không ước ao thấy những kỳ diệu của đất hứa… Thực ra người ấy cũng không mong được thấy khuôn mặt của tổ phụ Ápraham thượng thọ, nhưng người đó chỉ ước ao có mặt trong ba ngày đường, khi cụ Ápraham ngồi trên lưng lừa với con cụ là Isaac.[2]

Nhân vật được đề cập đến trong đoạn mở đầu cuốn sách khi chiêm ngắm biến cố của tổ phụ chỉ ao ước một điều là được hiện diện trong ba ngày đường của tổ phụ Ápraham để được thấy đức tin kiên vững của người được Kinh Thánh gọi là cha của những kẻ tin (Rm 4,11), nhờ đó, để học cho biết thế nào là vâng phục. Đức tin của Ápraham dấn tới sự vâng phục tuyệt đối vào lời của Thiên Chúa. Và điều đó mời gọi chúng ta suy gẫm về đức tin cũng như sự vâng phục của tổ phụ và hướng tới việc làm sao để có thể học cho biết thế nào là vâng phục.

  1. Đức tin dẫn tới sự vâng phục

Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau đọc lại cuốn Kinh hãi và run sợ. Nhìn vào nội dung cuốn sách, chúng ta thấy Kierkegaard chỉ suy nghĩ về sự kiện duy nhất này: Abraham tin tưởng vào Thiên Chúa và yêu mến Thiên Chúa đến nỗi đã quyết định vâng theo lệnh truyền của Thiên Chúa, giết con một của mình là Isaac để trọn niềm trung thành với Thiên Chúa (St 22,1-19). Giết con là một tội ác ghê gớm vào bậc nhất: Vậy một là phải công nhận tôn giáo vượt lên trên luân lý, hai là phải cho rằng Ápraham là chàng đại ác trong trần gian này. Thế nhưng, Abraham lại được xem là “cha của những kẻ tin” (Rm 4,11) và chúng ta ai ai cũng tôn kính Abraham như mẫu gương đích thực. Điều gì đã xảy đến với tổ phụ Ápraham trong biến cố có một không hai này, điều gì làm nên bước ngoặt để tổ phụ được nhiều thế hệ con cháu ngợi ca. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma cho chúng ta câu trả lời đó là nhờ đức tin của tổ phụ vào Thiên Chúa và có lẽ, mỗi người chúng ta cũng đồng tình với lời giải đáp trên.

Chính trong niềm tin yêu, con người nỗ lực để vươn tới chỗ kết hiệp với Đấng siêu việt. Đức tin nơi tổ phụ Ápraham không dừng lại ở lời nói suông nhưng đáp trả bằng sự vâng phục. Để có thể thấy được rằng việc vâng phục thánh ý của Thiên Chúa không phải là điều dễ dàng, chúng ta cùng nhìn lại câu chuyện trong trình thuật sách Sáng thế (St 22,1-19). Trong cuốn Kinh hãi và run sợ của mình, Kierkegaard đã phác họa con đường của đức tin có “hai chuyển động vô cùng” (un double mouvement infini): một là sự nhẫn nại vô cùng (la résignation infinie), hai là sự tin tưởng sẽ vãn hồi được tất cả những gì mình đã hiến dâng cho Thiên Chúa (la répétition). Cả hai chuyển động này cùng vượt xa trên cả những lý luận của lý trí.

Ta thử xem chuyển động thứ nhất: Vô cùng nhẫn nại. Mẫu gương của tổ phụ Abraham còn đó, Ngài đã hy sinh tất cả vì tin yêu Thiên Chúa. Và cũng chính bởi đức tin vào Thiên Chúa mà tổ phụ Ápraham đã can đảm vâng phục ý muốn của Thiên Chúa. Xuyên suốt hành trình đi đến nơi mà Thiên Chúa đã chỉ cho mình, tổ phụ hoàn toàn đặt mình trong ý định của Thiên Chúa, không một lời than vãn, thắc mắc hay cố gắng đi tìm một lối lý giải, thay vào đó là sự thinh lặng bước đi. Sự thinh lặng của đức vâng phục. Tổ phụ đã kiên nhẫn để đón đợi xem Thiên Chúa muốn điều gì nơi ngài qua biến cố này. Chúng ta đã thấy “người cha của những kẻ tin” đạt tới mức “nhẫn nại vô cùng”. Nhẫn nại vô cùng, bởi lẽ, tổ phụ đã vì Thiên Chúa mà hiến dâng tất cả những gì quý báu nhất đời họ. Ápraham đã quyết định hy sinh con trai yêu quý và độc nhất của mình, hy vọng duy nhất của mình trong tuổi già.

Chuyển động thứ hai: Tin tưởng vào sự vãn hồi. Theo Kierkegaard, chuyển động thứ hai này mới chính là vẻ đặc sắc của đức tin.[3] Chắc hẳn tổ phụ Ápraham không đòi Thiên Chúa phải trả lại cho ngài theo kiểu công bằng của con người. Đức vâng phục không dẫn con người đi vào ngõ cụt nhưng trái lại, người tin xác quyết rằng phía sau của sự vâng phục chính là niềm tin vào việc Thiên Chúa sẽ thi thố bàn tay uy quyền đầy yêu thương của Ngài. Ngài sẽ trả lại cho chúng ta cách này hay cách khác, có khi là gấp trăm gấp bội, vượt quá những gì con người có thể suy tưởng. Và kết thúc của câu chuyện hôm nay là một minh chứng hùng hồn. Tổ phụ Ápraham không những nhận lại người con một là Isaac mà còn là cả một đoàn dân đông đảo về sau. Quả thật, nhờ đức tin, tổ phụ Ápraham đã can đảm vâng theo thánh ý của Thiên Chúa. Ông đã trở thành cha của những người tin.

  1. Cú nhảy đức tin

Vậy đối với chúng ta, những người tin hôm nay, tổ phụ Ápraham thực sự là một mẫu gương. Thế nhưng, câu hỏi được đặt ra là làm sao để có thể đạt tới đức tin như Apraham?

Triết gia Kierkegaard cho thấy rằng chúng ta cần đến một cú nhảy đức tin.

Chúng ta có đức tin. Điều đó mỗi người có thể tự cảm nhận và xác quyết được. Thế nhưng, để có thể đạt tới một tầm mức tin dẫn đến vâng phục cách tuyệt đối như tổ phụ Ápraham, sự dừng lại ở việc có đức tin xem ra vẫn chưa đủ nhưng người tin còn được mời gọi cần thực hiện thêm một cú nhảy đức tin để thực sự bước vào đường lối của Thiên Chúa. Điều đó thật sự cần thiết bởi lẽ, đứng trước ý định của Ngài, người tin có thể nhìn nhận và thấy rõ đó là ý định của Chúa dành cho mình, thế nhưng để có thể đón nhận thánh ý ấy, lắm lúc lại là điều không thể dễ dàng. Ở đây, chúng ta mới thấy được bối cảnh của điều mà triết gia Kierkegaard gọi là cú nhảy đức tin để hướng tới siêu việt. Người tin cần can đảm thực hiện một cú nhảy, nhảy để vượt qua những rào cản đang ngăn chúng ta đón nhận ý Chúa, nhảy để vượt qua những cái “xưa cũ” trong suy nghĩ, trong con tim để bước vào một bình diện mới trong ý định của Thiên Chúa. Người tin phải mau mắn từ bỏ cách sống ù lì trong con người cũ để thực hiện cú nhảy từ chỗ làm theo ý muốn bản thân lên tới chỗ làm người tự do sống trong thánh ý Chúa. Con người tự do phải vươn lên tới Thiên Chúa, xem Ngài là chuẩn mực, cùng đích và là lý tưởng cho ta vươn tới. Cho nên, đối với triết gia Jaspers, Thiên Chúa chính là hướng đi lên của ta, và Ngài chính là kho vô tận cho những ước muốn nên hoàn thiện của ta.

  1. Học cho biết thế nào là vâng phục

Đường đi đã rõ ràng như thế nhưng để thực sự vâng phục thánh ý của Thiên Chúa quả không phải là dễ dàng. Kinh nghiệm cá nhân của từng người có thể phần nào minh hoạ cho luận đề này. Nói như thế không phải là bi quan nhưng là để chúng ta nỗ lực vươn lên. Chính ở đây, chúng ta bắt gặp một mẫu gương của đức vâng phục, đó chính là Đức Giêsu, vị Thiên Chúa gần gũi với con người: “Dẫu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Hr 5,8). Thư gửi tín hữu Hípri cho thấy Đức Giêsu đã học được sự vâng phục qua những gì Người đã trải qua, đặc biệt là trong cuộc khổ nạn. Điều này không có nghĩa là Ngài thiếu hiểu biết về sự vâng phục, mà là Ngài đã trải nghiệm sự vâng phục như một con người, từ đó hoàn thiện sự vâng phục của mình.[4] Hiểu như vậy có nghĩa rằng đức vâng phục không phải chỉ đơn thuần là một tri thức hay là một khái niệm nhưng hơn hết đó như là một kinh nghiệm sống đức tin. Đó cũng là lý do mà mỗi người cũng cần phải học thế nào là vâng phục nhờ những kinh nghiệm trong đời sống thường nhật và đặc biệt, trong hành trình đức tin của mình.

Mỗi người ắt hẳn đều có cho mình những kinh nghiệm mà nơi đó chúng ta phải đón nhận những quyết định. Những quyết định đó sẽ dễ dàng được đón nhận nếu nó hợp với điều ta đã chuẩn bị sẵn sàng tinh thần nhưng sẽ là những bối rối nhất định khi nó xem ra hơi xa lạ với tâm tư của ta. Thế nhưng, chính trong bối cảnh đó, chúng ta tìm thấy được giá trị của đức tin, như mẫu gương của tổ phụ Ápraham khi đón nhận thánh ý Thiên Chúa. Bước đi trong thánh ý của Thiên Chúa không miễn trừ cho người tin thoát khỏi những lo âu, những thử thách nhưng chắc chắn một điều rằng, bước đi trong thánh ý Chúa, người tin sẽ không lạc lối. Chính trên hành trình đó, chúng ta bắt gặp một vị Thiên Chúa gần gũi với kiếp nhân sinh, chứ không phải là một hữu thể cao xa và lạnh lùng như ta thấy trong triết thuyết của Aristote hay của Descartes. Thiên Chúa là đích điểm tối cao của con đường hiện sinh, tức là con đường trở thành hoàn thiện, cho nên, chúng ta hiểu được phần nào điều mà triết gia Kasper đã nói: sống mà không hướng về Thiên Chúa là sống lạc lõng và vô nghĩa. Bởi vậy đích điểm và ý nghĩa của cuộc đời ta chỉ thực hiện được khi nào ta nắm chặt được Thiên Chúa.[5]

Tóm lại

Thiên Chúa vẫn luôn tỏ cho con người biết thánh ý của Ngài. Lắm lúc, thánh ý Ngài thật khó đón nhận biết bao. Câu chuyện của tổ phụ Ápraham là một minh chứng sống động. Thế nhưng, nhờ đức tin và niềm tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, tổ phụ đã can đảm vâng phục thánh ý Chúa để nhờ vâng phục mà tổ phụ đã được Thiên Chúa ban lại cho muôn vàn ân huệ cùng với cả người con duy nhất là Isaac. Là con cháu của tổ phụ Ápraham, người tin cũng muốn học theo mẫu gương của tổ phụ hầu đạt tới một đức tin kiên vững trên con đường theo Chúa. Thế nhưng, mang nơi mình những yếu đuối mỏng giòn của phận người, chúng ta lắm lúc không đủ can đảm để đón nhận thánh ý Ngài. Hạnh phúc thay, Thiên Chúa vẫn hằng ban ơn đỡ nâng chúng ta. Để rồi mỗi khi đọc lại câu chuyện của tổ phụ Ápraham trong trình thuật sách Sáng thế, cách riêng qua cách nhìn độc đáo của triết gia Kierkegaard, chúng ta có thể vươn tới Đấng Siêu Việt nhờ biết đón nhận và thực thi thánh ý Ngài trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta có thể can đảm thân thưa cùng Chúa: Này con xin đến!

Chú thích

[1] Soren Kierkegaard (1813-1855) sinh tại Copenhagen, Đan Mạch. “Triết hiện sinh đã phát xuất từ những suy tưởng của Kierkegaard, còn Heidegger hay Jaspers, Sartre hay Marcel chẳng qua chỉ là những triết gia đào sâu thêm và có công phổ biến” (Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, Nxb Văn hoá (2005), tr. 81).

[2] Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, Nxb Văn hoá (2005), tr.43-47.

[3] Sđd, tr. 43-47.

[4] http://hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-gie-su-ki-to-duong-vang-phuc-42797 , truy cập ngày 10/07/2025.

[5] Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, Nxb Văn hoá (2005), tr.33-34.

Bài trướcVideo Thánh Lễ Hồng Ân Tiên Khấn 9g00, 16/07/2025
Bài tiếp theoLỜI SỐNG (Thứ Tư, Tuần 15 TN)