BÀI GIẢNG (Chúa Nhật, Tuần 4 Mùa Chay – Năm A)

0
504

Bài Ðọc I: Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a

“Ðavit được xức dầu làm vua Israel”.

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: “Hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường. Ta sai ngươi đến nhà Isai dân thành Bêlem, vì Ta chọn một người con của ông ấy lên làm vua”.

Khi (họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Eliab và nói: “Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?” Và Chúa phán cùng Samuel: “Ðừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”. Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai: “Chúa không chọn ai trong những người này”. Samuel nói tiếp: “Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?” Isai đáp: “Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên”. Samuel nói với Isai: “Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về”. Isai sai người đi tìm đứa con út. Ðứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: “Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó”. Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).

Xướng: 1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. – Ðáp.

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. – Ðáp.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. – Ðáp.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. – Ðáp.

Bài Ðọc II: Ep 5, 8-14

“Từ trong cõi chết, ngươi hãy đứng lên và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật. Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì, nhưng phải tố cáo thì hơn. Vì chưng, việc chúng làm cách thầm kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn. Nhưng tất cả những việc người ta tố cáo, thì nhờ sự sáng mà được tỏ bày ra; vì mọi việc được tỏ bày, đều là sự sáng. Bởi thế, thiên hạ nói: “Hỡi kẻ đang ngủ, hãy thức dậy, hãy vùng dậy ra khỏi cõi chết, và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 8, 12b

Chúa phán: “Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống”.

Phúc Âm: Ga 9, 1-41 (bài dài)

“Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?” Chúa Giêsu đáp: “Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh. Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Ðấng đã sai Ta. Ðêm đến không ai có thể làm việc được nữa. Bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian”. Nói xong, Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôê mà rửa” (chữ Silôê có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và những kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Ðó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Ðúng hắn!” Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”. Họ hỏi anh: “Làm thế nào mắt anh được sáng?” Anh ta nói: “Người mà thiên hạ gọi là Giêsu đã làm bùn xức mắt tôi và bảo: Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa. Bấy giờ tôi đi, tôi rửa và tôi trông thấy”. Họ lại hỏi: “Ngài ở đâu?” Anh thưa: “Tôi không biết”.

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt? Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Ðó là một tiên tri”.

Nhưng người Do-thái không muốn tin anh đã mù và đã được khỏi trước khi đòi cha mẹ anh đến. Họ hỏi hai ông bà: “Người này có phải là con hai ông bà mà ông bà bảo bị mù từ khi mới sinh không? Do đâu mà bây giờ nó lại trông thấy?” Cha mẹ y thưa rằng: “Chúng tôi xác nhận đây chính là con chúng tôi, và nó đã bị mù từ khi mới sinh. Nhưng làm sao mà bây giờ nó trông thấy, và ai đã mở mắt cho nó thì chúng tôi không biết. Nó khôn lớn rồi, các ông hãy hỏi nó, nó sẽ tự thưa lấy”. Cha mẹ anh ta nói thế bởi sợ người Do-thái, vì người Do-thái đã bàn định trục xuất khỏi hội đường bất cứ ai dám công nhận Chúa Giêsu là Ðấng Kitô. Chính vì lý do này mà cha mẹ anh ta nói: “Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó”.

Lúc ấy người Do-thái lại gọi người trước kia đã mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa! Phần chúng ta, chúng ta biết người đó là một kẻ tội lỗi”. Anh ta trả lời: “Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy”. Họ hỏi anh: “Người đó đã làm gì cho anh? Người đó đã mở mắt anh thế nào?” Anh thưa: “Tôi đã nói và các ông đã nghe, các ông còn muốn nghe gì nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ Ngài chăng?” Họ liền nguyền rủa anh ta và bảo: “Mày hãy làm môn đệ của người đó đi, còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với Môsê, còn người đó chúng ta không biết bởi đâu mà đến”. Anh đáp: “Ðó mới thật là điều lạ: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Chúa Giêsu liền nói: “Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù”. Những người biệt phái có mặt ở đó liền nói với Người: “Thế ra chúng tôi mù cả ư?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói “Chúng tôi xem thấy”, nên tội các ngươi vẫn còn”.

Ðó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này: Ga 9, 1. 6-9. 13-17. 34-38

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa” (chữ Silôe có nghĩa là được sai)”. Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Ðó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Ðúng hắn”. Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”.

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Ðó là một Tiên tri”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người.

Ðó là lời Chúa.


Bài giảng chủ đề:

GẶP ĐƯỢC GIÊ-SU – MỘT HÀNH TRÌNH GIAN NAN (Lm. Antôn Nguyễn Huy Quyền, SVD)

Tình cờ, tôi gặp bà trong một lần đi thăm mục vụ. Bà đã chia sẻ cho tôi nghe về hành trình đức tin đầy gian nan của mình như sau: Bà sinh ra và lớn lên trong một gia đình theo “Đạo Ông Bà”. Gia đình bà có truyền thống cách mạng. Chồng và con cái bà đều là cán bộ viên chức nhà nước. Một lần kia bà lâm trọng bệnh, cận tử nhất sinh, bệnh viện trả về để lo hậu sự. Gia đình rơi vào tuyệt vọng. Nghe tin bà bị bệnh, một người bạn của bà là người Công Giáo ghé thăm, đưa cho bà chai nước lọc và dặn rằng: “Bên Công Giáo chúng tôi gọi chai nước này là nước thánh. Bạn cứ uống và cầu xin Chúa (Ông Trời) chữa lành cho. Nhiều người đã uống nước này và được khỏi bệnh rồi”. Thoạt nghe, bà và gia đình không tin. Nhưng “có bệnh thì vái tứ phương,” nên ai chỉ cái gì ăn / uống vào sẽ khỏi bệnh là làm, ai bày cho bác sĩ nào giỏi hay đền chùa nào thiêng là tìm đến. Vì thế, mặc dầu không tin, nhưng vì không còn cách nào khác nên nghe lời bạn và uống nước thánh. Mỗi lần uống bà chỉ cầu xin vắn gọn: “Lạy Ông Trời, xin thương con với”. Càng ngày thì bà thấy trong người khoẻ dần. Sau đó, bà quay trở lại bệnh viện khám thì bác sĩ cho biết căn bệnh hiểm nghèo của bà đã không còn. Bà hỏi người bạn về chai nước thánh kia là gì. Người bạn đã giải thích cho bà về ý nghĩa của chai nước thánh và niềm tin Công Giáo. Bà đã tin mình được ơn chữa lành và xin được rửa tội. Tuy nhiên, ước nguyện của bà gặp phải sự chống đối của gia đình, sự nghi ngờ, dèm pha và khinh miệt của xóm làng. Hơn thế nữa, bà còn bị người ta hù doạ rằng nếu theo đạo thì chết không ai chôn. Nhiều lúc bà cảm thấy ngã lòng. Nhưng với một niềm tin không thay đổi, bà đã được lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Nay, bà là chứng nhân của ơn chữa lành, một cộng tác viên loan báo Tin Mừng nhiệt thành.

Câu chuyện anh mù trong bài Tin Mừng cũng có nét giống với câu chuyện trên. Tuy nhiên, câu chuyện anh mù được Đức Giê-su chữa lành có nhiều nét lâm ly và thâm trầm hơn, vì nó dẫn chúng ta đi vào chiều kích đức tin sâu hơn và xa hơn rất nhiều.

Thánh Gio-an kể rằng, vừa ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su gặp một anh mù từ thuở mới sinh và Ngài đã chủ động chữa lành cho anh, vì Ngài xác định đây là sứ mạng của Ngài: “Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy”. Cho nên, khi nhìn thấy anh mù, Ngài không đặt câu hỏi giống như các môn đệ, cũng không hỏi ý kiến bệnh nhân, mà Ngài lập tức ra tay cứu chữa cho anh. Nếu câu chuyện kết thúc tại đây thì quá đẹp, vì Đức Giê-su không chỉ phục hồi con mắt thể lý mà còn cả con mắt tâm hồn cho người xấu số này. Tuy nhiên, câu chuyện được thánh Gio-an viết tiếp rằng, sau khi gặp được Đức Giê-su và được Ngài chữa lành, anh mù này phải đối diện với một chuỗi ngày dài đầy thử thách. Nói cách khác, để nhìn thấy Đức Giê-su một cách rõ ràng, anh mù phải trả một cái giá rất đắt. Thật vậy, thử thách đầu tiên mà anh gặp phải đó là sự tò mò, nghi ngờ và khinh dễ của những người chung quanh. Họ cho rằng, kẻ được sáng mắt là một người khác chứ không phải anh, người mù ngồi ăn xin ở cổng thành. Điều này có nghĩa là họ đánh thẳng vào tâm lý và niềm tin của cá nhân anh. Họ cố tình làm như thế là để anh cũng không tin vào chính mình. Nói cách khác, họ muốn xoá bỏ căn tính của anh. Tuy nhiên, anh đã tự tin khẳng định rằng: “Chính tôi đây!”

Thử thách thứ hai mà anh phải đối diện đó là người Do Thái đã tìm cách gây áp lực lên cha mẹ và người nhà của anh để họ sợ hãi mà bỏ rơi anh. Nói cách khác, họ cô lập anh, để anh một mình đơn độc. Quả thật, cha mẹ và người thân dường như đã từ chối anh: “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay”. Có thể nói, đây là một cái giá đắt mà anh mù đã phải trả cho chính sự sáng mắt của mình. Bởi vì, lẽ ra gia đình phải vui mừng vì anh được sáng mắt; hoặc họ phải chứng thực rằng anh bị mù từ bẩm sinh mà nay được sáng. Nhưng ngược lại, họ đã để anh phải cô đơn một mình đối diện với áp lực của xã hội. Tuy nhiên, với một niềm tin kiên vững, anh vượt qua mọi áp lực và sợ hãi để xác quyết rằng Đức Giê-su chính là người đã chữa cho anh được sáng mắt. Người Do Thái dường như chưa chịu thua cuộc. Sau khi hù doạ và gây áp lực lên anh và cha mẹ của anh không thành công, thì họ quay sang đánh lừa anh bằng cách cho rằng Đức Giê-su, Người đã mở mắt cho anh, “là người tội lỗi”. Nhưng anh lại càng xác quyết mạnh hơn khi anh tuyên xưng rằng Đức Giê-su “là một vị Ngôn Sứ,” “Người bởi Thiên Chúa mà đến”. Khi biết không thể làm thay đổi niềm tin của anh mù vào Đức Giê-su, thì người Do Thái đã trục xuất anh khỏi hội đường. Điều này có nghĩa là, họ vẫn không chấp nhận cho anh được gia nhập cộng đoàn. Đây là hình phạt nặng nhất đối với người Do Thái. Tuy nhiên, khi họ trục xuất anh mù khỏi hội đường, có nghĩa là họ trục xuất Đức Giê-su. Khi người Do Thái không chấp nhận Đức Giê-su là Đấng đã chữa lành cho anh mù, có nghĩa là họ khước từ đón nhận Ngài là vị Ngôn Sứ của họ. Hai câu chuyện trên cho chúng ta thấy kinh nghiệm để gặp được Đức Giê-su và xác tín niềm tin vào Ngài đòi hỏi chúng ta phải trả một cái giá. Cái giá đó chính là hành trình đức tin mà chúng ta đang bước đi mỗi ngày trong từng ngày sống của người Ki-tô hữu. Mùa Chay là cơ hội thuận tiện để chúng ta sống kinh nghiệm gặp gỡ và xác tín niềm tin của mình vào Đức Giê-su.

Xin Chúa Giê-su mở mắt đức tin để chúng ta thấy rõ Ngài vẫn luôn đồng hành với chúng ta trong hành trình của người Ki-tô hữu. Nhờ đó, chúng ta luôn kiên vững trong đức tin dù gặp khó khăn và thử thách. Amen.


 

GIỮ VỮNG NIỀM TIN (Lm. Giuse Lê Văn Tuấn, SVD)

Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay năm A kể lại cho chúng ta việc Đức Giêsu chữa lành cho người mù từ lúc mới sinh, kế tiếp là cuộc tranh luận giữa những người Pharisêu và người mù được chữa lành. Khi bị trục xuất khỏi hội đường, gặp lại Đức Giêsu, và khi được hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?Anh đáp: Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin? Đức Giê-su trả lời: Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.Anh nói: ‘Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.” (Ga 11,35-38). Người mù đã tuyên xưng niềm tin của mình trước Đức Giêsu. Dù bị trục xuất, dù bị công kích và sa thải khỏi cộng đoàn, anh một mực khẳng định niềm tin của mình vào Đức Giêsu.

Theo quan niệm người Do Thái thời đó, thì mọi bệnh tật đều do tội lỗi gây nên. Do đó, việc Đức Giêsu mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh là dấu chỉ để những người chứng kiến phép lạ ấy mà nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và cũng là dịp để vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện nơi Đức Giêsu. Bởi nguyên tội, mỗi người chúng ta đều là những người mù từ lúc mới sinh, đang ngụp lặn trong bóng đêm tội lỗi và sự chết. Chúng ta không thể nào nhận biết Thiên Chúa là Ánh Sáng, nếu không được Ngài mở mắt tâm linh cho. Người mù tin ở Đức Giêsu thì được khỏi và được dẫn đến chỗ nhìn nhận mạc khải của Chúa. Trái lại, những kẻ vẫn tự khoe là thông thái và sáng suốt thì lại không thấy được Đấng đem ánh sáng cứu rỗi đến cho con người. Họ tự giam mình trong tối tăm của sự chết. Nơi người mù có một đức tin đầy lạc quan, biết reo vui cảm tạ Thiên Chúa vì những ơn đã lãnh nhận. Đó là một đức tin đầy can đảm, sẵn sàng đối diện với những thử thách, sự ngược đãi của thế lực cầm quyền. Và đó cũng còn là một đức tin vững vàng chấp nhận thiệt thòi, cô đơn vì dám làm chứng cho ánh sáng giữa bóng tối tội lỗi trần gian. Đức Giêsu đã ban ánh sáng cho người mù bẩm sinh. Đó là một thứ ánh sáng kép: ánh sáng của đôi mắt thể lý để anh thoát khỏi cảnh mù loà; và ánh sáng của niềm tin, đưa tâm hồn anh thoát ra khỏi cảnh tù đày của tội lỗi. Như vậy, nơi người mù này, một sự biến đổi đã thực sự diễn ra. Đôi mắt mù trở nên nhìn thấy được, tâm hồn u tối trở nên sáng nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng là Ánh Sáng cho trần gian.

Trong một bài chia sẻ khi nói về niềm tin của người mù bẩm sinh trong đoạn Tin Mừng hôm nay, nguyên đức tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt viết:Anh được sáng mắt. Anh có niềm tin. Đó là một biến cố quan trọng thay đổi toàn bộ đời anh. Thế mà những người thân thiết nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình vẫn thờ ơ, lãnh đạm. Để vững niềm tin vào Chúa, anh đành chấp nhận hành trình đơn độc. Vì tin Chúa anh đành cam chịu sự thờ ơ lãnh đạm của những người thân. Trung thành với niềm tin đã làm trái tim anh rướm máu. Sự căng thẳng lên đến cực điểm khi anh phải đối đầu với quyền lực tôn giáo. Họ mạt sát anh là sinh ra trong tội lỗi. Họ tố cáo Đức Giêsu đã lỗi phạm luật nghỉ ngày sabát. Và sau cùng, họ khai trừ anh khỏi hội đường. Đây là hình phạt nặng nề, nhục nhã nhất đối với người Do Thái. Bị gia đình từ bỏ. Giờ đây lại bị xã hội chối từ. Anh trở thành người cô đơn nhất. Đây là thử thách lớn lao nhất. Nhưng anh vẫn vững vàng vượt qua. Lựa chọn của anh giờ đây là dứt khoát. Mất tất cả chỉ để trung tín với niềm tin của mình. Đúng lúc đau đớn nhất Đức Giêsu lại xuất hiện. Như để khen thưởng cho đức tin kiên vững của anh, Đức Giêsu tỏ cho anh biết Người là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa. Lập tức anh quỳ sấp mặt xuống thờ lạy Người. Hành trình niềm tin gian khổ thế là chấm dứt. Anh đã gặp được Chúa Kitô.

Hành trình đức tin của anh thanh niên mù chính là khuôn mẫu cho hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Anh thanh niên mù đã chiến đấu với những bóng tối vây phủ đức tin của mình. Anh đã kiên trì và đã chiến thắng. Anh đã ra khỏi tối tăm, gặp được Đức Giêsu là nguồn ánh sáng. Đời anh từ nay tràn ngập ánh sáng niềm tin. Còn tôi, tôi đã chiến đấu thế nào với những thế lực bóng tối đe doạ đức tin của tôi? Những bóng tối nghi kỵ, những bóng tối thù hận, những bóng tối độc ác, những bóng tối tự mãn kiêu căng, những bóng tối dục vọng tội lỗi. Tôi có can đảm chiến đấu để phá tan những bóng tối đó không?

Lạy Chúa Giêsu là nguồn sáng của nhân loại, xin cho con biết nhận ra Chúa trong cuộc sống hằng ngày bằng con mắt đức tin qua những dấu chỉ của thời đại. Xin cho con luôn trung thành và giữ vững niềm tin dù gặp những thử thách gian nan.

 

Bài trướcLỜI SỐNG (Thứ Bảy tuần 3 Mùa Chay)
Bài tiếp theoLỜI SỐNG (Chúa Nhật, Tuần 4 Mùa Chay – A)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây