✍️ Lm. Paul Nguyễn Ngọc, SVD
Nội dung
1.1. Chủ nghĩa duy vật và tiêu thụ.
1.2. Chủ nghĩa duy nhân và cá nhân cực đoan
1.4. Não trạng kỹ trị và tha hoá tinh thần.
2.2. Loại bỏ giá trị tinh thần và tương quan.
DẪN NHẬP
Thế giới ngày nay đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, cách mạng công nghệ điện tử, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và toàn cầu hóa, nhưng đồng thời cũng gánh chịu hậu quả nặng nề từ chính những thành tựu đó: khủng hoảng sinh thái và biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, thế giới cũng đang đối diện với cuộc khủng hoảng về nhân phẩm và các giá trị sống. Một trong những biểu hiện rõ nét của khủng hoảng ấy là “văn hóa vứt bỏ” (x. LS, 22), một lối sống coi vật chất, thiên nhiên và thậm chí cả con người như những món hàng có thể sử dụng rồi loại bỏ khi không còn “hữu dụng”. Lối sống đó cũng đang tiếp tay vào việc “bóc lột” và “tàn phá” ngôi nhà chung một cách tàn nhẫn và làm cho khủng hoảng môi sinh ngày càng trầm trọng. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chân thành nhận ra rằng loài người chúng ta đã và đang biến chính trái đất và con người thành “rác thải”. Ngài viết: “Ngôi nhà trái đất của chúng ta, càng ngày càng trở nên một bãi rác khổng lồ” (LS, 21) và “con người bị loại trừ thành rác rưởi” (LS, 22).
Dưới ánh sáng của linh đạo sinh thái, vấn nạn này không chỉ là vấn đề kinh tế – xã hội, mà là biểu hiện của một khủng hoảng thiêng liêng sâu xa, khi con người đánh mất ý thức mình chỉ là một thụ tạo và được mời gọi sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, tha nhân, và với tạo thành. Bên cạnh hành vi vứt bỏ vật chất, con người và cũng có nguy cơ “vứt bỏ căn tính đời sống thánh hiến” khi nền văn hóa tiện nghi và hiệu năng làm giảm tinh thần khó nghèo và tương quan huynh đệ; khi những thành viên già yếu, bệnh tật hoặc không còn “đẻ trứng” bị xem nhẹ. Tựa như câu nói dân gian của truyền thống Tây Ban Nha: “Gallina que no pone huevos, al puchero: con gà mái không đẻ trứng thì bị nhốt vào nồi”; khi giá trị đời tu, đức khiêm nhường và lòng biết ơn không còn được trân trọng.
Trong khuôn khổ bài viết này, người viết không có tham vọng trình bày các vấn đề lớn của môi sinh hiện nay, nhưng chỉ mạn phép triển khai một vài điểm của vấn đề “văn hóa vứt bỏ” hầu có thể rút ra cho bản thân bài học để tự hoán cải và góp phần chữa lành “ngôi nhà chung” đang bị tổn thương.
1. CĂN NGUYÊN CỦA “VĂN HÓA VỨT BỎ”
Căn nguyên sâu xa nằm ở não trạng duy vật, duy tiêu thụ, duy nhân và cá nhân chủ nghĩa cực đoan, trong đó con người tự đặt mình làm trung tâm và đo lường mọi thứ bằng lợi ích và tiện nghi riêng:
1.1. Chủ nghĩa duy vật và tiêu thụ
Đức Giáo Hoàng Phanxicô, trong Thông Điệp Laudato Si’, mô tả nền “văn hoá vứt bỏ” như một hệ quả của “não trạng duy vật và duy lợi”. Con người bị cuốn vào vòng xoáy tiêu thụ, xem vật chất và tiện nghi là cùng đích. Điều này làm người ta đánh mất cảm thức về giá trị nội tại của sự vật và sự sống, coi mọi thứ (kể cả con người) như đồ vật có thể sử dụng rồi bỏ đi. Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Những vấn đề này có liên hệ mật thiết với nền văn hoá vứt bỏ đang ảnh hưởng đến người bị loại trừ khi nó nhanh chóng giảm thiểu mọi thứ thành rác rưởi” (LS, 22). Bởi chính chủ nghĩa sở hữu vật chất quá độ dẫn con người đến hành động phá vỡ tương quan hộ tương và “bóc lột” trái đất: “Con người và các sự vật không còn đưa bàn tay thân thiện cho nhau nữa, nhưng đã trở thành đối đầu. Từ đây, người ta dễ dàng đi đến ý tưởng về một sự tăng trưởng vô biên hay không giới hạn, là điều đã làm say mê biết bao nhà kinh tế, tài chính và chuyên gia công nghệ. Nó dựa trên sự lừa dối rằng có một nguồn cung cấp vô biên các tài nguyên của trái đất, và dẫn đến việc hành tinh của chúng ta đang bị vắt cạn vượt quá giới hạn của nó. Thật sai lầm khi quan niệm rằng ‘có một lượng vô hạn năng lượng và tài nguyên có thể sử dụng, rằng việc tái tạo tức thời của chúng là khả thi, và rằng các tác động tiêu cực của việc thao túng thiên nhiên có thể dễ dàng được hóa giải’” (LS, 106)
1.2. Chủ nghĩa duy nhân và cá nhân cực đoan
Đức Giáo Hoàng Phanxicô cảnh báo chúng ta rằng ngôi nhà chung “đang kêu gào vì những tổn thương mà chúng ta đã gây ra cho chị qua việc sử dụng vô trách nhiệm và lạm dụng những của cải mà Thiên Chúa ký gửi nơi chị. Chúng ta cứ đinh ninh rằng mình là chủ nhân và chúa tể của trái đất này và muốn bóc lột ra sao tùy ý” (LS, 2). Quả thực, khi con người tự đặt mình làm trung tâm điểm, họ xem mọi sự xung quanh chỉ có giá trị nếu phục vụ họ. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI chỉ ra sự nguy hiểm của cá nhân chủ nghĩa cực đoan: “Việc sử dụng sai lầm công trình sáng tạo bắt đầu khi chúng ta không còn nhận biết bất kỳ một điều gì cao hơn chính bản thân chúng ta, khi chúng ta chẳng thấy gì khác ngoại trừ chính bản thân chúng ta” (LS, 6, trích Diễn từ cho hàng giáo sĩ Bolzano-Bressanone (6.8.2008) AAS 100 (2008) 634). Chủ thuyết đặt con người làm trung tâm thái quá không chỉ dẫn đến phá hoại thiên nhiên mà còn phá hoại các tương quan xã hội như lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô khẳng định: “Thời hiện đại mang dấu ấn của chủ thuyết đặt con người làm trung tâm thái quá đến nỗi ngày nay đang tiếp tục phá hoại bất kỳ con đường nào của sự hiểu biết chung và những nỗ lực nhằm củng cố mối dây liên kết xã hội” (LS, 116). Ngài cảnh báo: “Khi con người tự đặt mình làm trung tâm, họ sẽ dành ưu tiên tuyệt đối cho sự tiện nghi trước mắt và tất cả những thứ khác trở nên tương đối. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi thấy sự xuất hiện của chủ nghĩa tương đối cùng với sự có mặt ở khắp nơi của mô hình kĩ trị và tôn thờ sức mạnh vô hạn của con người. Thứ chủ nghĩa này coi tất cả mọi sự là không phù hợp nếu nó không phục vụ cho những lợi ích trước mắt của con người” (LS, 122). Và “cùng một lối lý luận ‘dùng một lần’ này tạo ra quá nhiều chất thải, chỉ vì ham muốn tiêu thụ quá mức nhiều hơn điều chúng ta cần” (LS, 123).
1.3. Mô hình kinh tế vứt bỏ
Trong Tông Huấn Niềm Vui của Tin Mừng (Evangelii Gaudium), Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rất rõ: “Ngày nay mọi thứ đều theo luật cạnh tranh và luật sinh tồn của kẻ thích hợp nhất, ở đó những kẻ có quyền lực chèn ép những người yếu. Hậu quả là vô số người bị loại trừ và bị gạt ra bên lề: không việc làm, không phương tiện, không có bất kỳ lối thoát nào. Chính con người cũng bị coi là món hàng tiêu thụ sử dụng rồi vứt bỏ. Chúng ta đã tạo ra một văn hoá ‘vứt bỏ’ hiện đang lan rộng.” (EG, 53). Thật xót xa khi quyền lực lên ngôi, khi đồng tiền trở thành thước đo giá trị thì những người yếu thế bị xem như vô ích hoặc trở thành gánh nặng cho cấu trúc hệ thống xã hội và rồi bị vứt bỏ khi không còn hữu dụng.
Ở đây, “văn hoá vứt bỏ” không chỉ là hệ quả đạo đức, mà còn là cơ chế cấu trúc của hệ thống kinh tế hiện đại: con người bị định giá theo năng suất, môi trường bị hy sinh cho lợi nhuận, người nghèo bị xem như “vô ích” vì không tiêu thụ hoặc không sinh lợi. Điều này cho thấy tính phi nhân bản của hệ thống, nơi lợi nhuận được đặt trên phẩm giá con người.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô lên án: “Văn hoá của sự thịnh vượng làm chúng ta mất đi sự mẫn cảm; chúng ta phấn khích nếu thị trường cung cấp cho chúng ta một món hàng mới; trong khi tất cả những mảnh đời cằn cỗi vì thiếu cơ hội có vẻ chỉ là một cảnh tượng bình thường, không hề làm chúng ta mủi lòng” (EG, 54).
1.4. Não trạng kỹ trị và tha hoá tinh thần
Đức Giáo Hoàng Phanxicô, trong Thông Điệp Laudato Si’, chỉ ra một yếu tố khác: não trạng kỹ trị, với niềm tin rằng kỹ thuật và thị trường có thể giải quyết mọi vấn đề. Ngài viết: “Mô hình kỹ trị cũng có xu hướng thống trị nền kinh tế và chính trị. Nền kinh tế tiếp nhận mọi tiến bộ công nghệ chỉ nhằm mục đích sinh lợi, mà không quan tâm đến những hậu quả tiêu cực có thể xảy ra với con người. Lĩnh vực tài chính thì lại bóp nghẹt nền kinh tế thực. Người ta vẫn chưa rút ra được bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và cũng rất chậm chạp trong việc rút ra bài học từ sự suy thoái môi trường. Trong một số nhóm người, người ta vẫn cho rằng nền kinh tế đương đại và công nghệ sẽ giải quyết tất cả các vấn đề về môi trường – cũng giống như có người nói, rằng ngôn ngữ phi học thuật, rằng các vấn đề của đói nghèo và khốn khổ trên thế giới sẽ chỉ được giải quyết nhờ sự tăng trưởng của thị trường” (LS, 109).
Nhưng người ta đã lầm vì não trạng này duy lý hoá việc loại bỏ: khi công nghệ trở thành thước đo duy nhất của tiến bộ, những gì “không hiệu quả” (người già, người tàn tật, người nghèo, thai nhi, trẻ em và môi trường tự nhiên) đều bị xem là “vướng víu”. Chẳng hạn như đại dịch SARS- COVID 19 đã lấy đi khoảng bảy triệu người trên toàn thế giới. Đứng trước thảm trạng đó, nhiều quan niệm cho đó là sự “thanh lọc tự nhiên”. Nghĩa là virus (như SARS-COVID 19) hoạt động theo quy luật sinh học (chọn lọc tự nhiên): loại bỏ những cá thể yếu, người già, hoặc người có bệnh nền, giúp tăng cường hệ miễn dịch cộng đồng đối với những người sống sót. (X. Đại dịch Covid-19 dạy cho chúng ta điều gì? https://tgpsaigon.net/bai-viet/dai-dich-covid-19-day-cho-chung-ta-dieu-gi-64117).
2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA “VĂN HÓA VỨT BỎ”
Loại “văn hoá vứt bỏ” đang biểu hiện một cách rất rõ ràng và đáng báo động trên mọi phương diện của cuộc sống. Nó không chỉ loại bỏ đồ vật, mà còn loại bỏ môi sinh và thậm chí loại bỏ cả con người:
2.1. Loại bỏ môi sinh
Thiên nhiên bị đối xử như “vật sở hữu” có thể khai thác không giới hạn. Khi sản xuất – tiêu thụ – vứt bỏ diễn ra liên tục, tạo nên núi rác, biển nhựa, đất ô nhiễm, nước dơ bẩn và khí quyển ngột ngạt. Cụ thể rừng bị tàn phá để lấy gỗ, để sản xuất; san bằng núi đồi, lấn biển-lấp sông để đô thị hóa. Ô nhiễm không khí, nước, đất do công nghiệp hoặc rác thải sinh hoạt. Sử dụng hóa chất, thuốc trừ sâu làm chết hệ sinh vật. Biến đổi khí hậu do khai thác quá mức nhiên liệu hóa thạch. Mất cân bằng sinh thái: tuyệt chủng động và thực vật.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô chỉ ra: “Cũng cần phải xem xét đến tình trạng ô nhiễm do rác thải gây ra, bao gồm cả các chất thải nguy hại hiện diện trong nhiều môi trường khác nhau. Mỗi năm, người ta tạo ra hàng trăm triệu tấn rác thải, nhiều trong số đó không thể phân hủy sinh học: rác thải sinh hoạt và thương mại, phế thải xây dựng, chất thải y tế, điện tử và công nghiệp, cũng như các chất thải có độc tính cao và chất phóng xạ. Trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta, dường như ngày càng trở thành một bãi chứa rác khổng lồ” (LS, 21).
Hệ quả là thiên nhiên bị khai thác quá mức, môi trường bị ô nhiễm và suy thoái, hệ sinh thái bị mất cân bằng. Đức Giáo Hoàng Phanxicô xem đây là “một khía cạnh khác của tội lỗi xã hội”, vì con người đánh mất cảm thức tạ ơn và trách nhiệm đối với công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Con chỉ đang sống một thực tại: hưởng dùng, mà quên đi trách nhiệm: bảo vệ và cải tạo hệ sinh thái.
2.2. Loại bỏ giá trị tinh thần và tương quan
Các trình thuật sáng tạo trong sách Sáng thế “gợi ý về cuộc sống con người dựa trên ba mối tương quan căn bản có liên hệ mật thiết với nhau: tương quan với Thiên Chúa, tương quan với tha nhân và tương quan với trái đất. Theo Kinh Thánh, ba mối tương quan thiết yếu này đã bị phá vỡ, cả bên ngoài lẫn bên trong chúng ta. Sự tan vỡ này chính là tội lỗi. Sự hoà hợp giữa Đấng Tạo Hóa, nhân loại và tạo thành đã bị đoạn tuyệt do con người muốn chiếm lấy vị trí của Thiên Chúa và khước từ nhìn nhận những giới hạn thụ tạo của mình. Điều này còn bóp méo lệnh truyền ‘làm bá chủ’ toàn thể trái đất (x. St 1,28), lệnh truyền ‘canh tác và gìn giữ trái đất’ (St 2,15). Hậu quả là mối tương quan hoà hợp nguyên thuỷ giữa con người và thiên nhiên trở nên xung đột (x. St 3,17-19)” (LS, 66). Những biểu hiện cụ thể qua việc anh chị em loại trừ nhau do tranh giành của cải; các nước chiến tranh vì quyền lực, lợi ích và tài nguyên; hàng triệu người dân phải rời bỏ quê hương do bạo lực của các nhóm lợi ích và chính sách độc tài của các nhà cầm quyền…
Thật vậy, khi chỉ còn “cái tôi” và “cái của tôi”, các mối dây hiệp thông, liên đới và huynh đệ bị phá vỡ. Hậu quả là cô đơn, bạo lực, chiến tranh và khủng hoảng ý nghĩa và giá trị sống lan tràn trong xã hội hiện đại. Và cuối cùng con người loại bỏ các giá trị tinh thần, loại bỏ chính đồng loại của mình, những người cũng mang hình ảnh của Thiên Chúa Sáng Tạo.
2.3. Loại bỏ con người
Người nghèo (bị xem là gánh nặng xã hội), người khuyết tật và người già (bị xem là “vô dụng”), thai nhi (bị loại trừ qua việc phá thai nhân danh quyền cá nhân), người nhập cư (bị coi là mối đe doạ ổn định xã hội) và cả những cộng đồng yếu thế (bị xem như vật cản của sự phát triển), tất cả họ bị coi như là những người “vô dụng” hoặc “không sinh lợi” hoặc thậm chí là “đồ phế thải”. Họ không còn được nhìn nhận như nhân vị có phẩm giá, mà chỉ như gánh nặng, vật cản hoặc đồ vật vô dụng đối với nền kinh tế tiêu thụ, kỹ trị và “văn hóa vứt bỏ”. Điều này được Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong Thông điệp Fratelli Tutti về tình huynh đệ và tình bằng hữu xã hội kết luận: “Rốt cuộc, con người không còn được xem như có giá trị tối cao phải được tôn trọng và bảo vệ, nhất là những người nghèo hoặc khuyết tật, chưa hữu dụng (như trẻ sắp ra đời), hoặc chẳng còn ích lợi gì (như người già cả)” (FT, 18).
Khi mọi tương quan bị thay thế bởi kỹ thuật và tiện ích, con người đánh mất khả năng cảm thông, hiệp thông và tôn trọng sự sống. Đó là sự tha hóa nhân văn do “văn hoá vứt bỏ” gây ra như Đức Giáo Hoàng Phanxicô mô tả: “Việc giảm tỉ lệ sinh đẻ, dẫn đến dân số bị lão hóa, cùng với việc người già bị bỏ mặc trong đơn độc tủi buồn, cho thấy rằng chúng ta đã quy tất cả về cho mình, chỉ có lợi ích cá nhân của chúng ta là quan trọng. Vì thế, ‘đối tượng thường bị thải bỏ không chỉ là thực phẩm hoặc những thứ dư thừa mà là chính con người’” (FT, 19).
Trong Tông Huấn Evangelii Gaudium, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng lên án thái độ loại trừ này: “Rốt cuộc thái độ loại trừ làm thay đổi ý nghĩa của tư cách là thành phần của xã hội chúng ta đang sống; những người bị loại trừ không còn là phần phụ thuộc hay bên lề hay bị tước quyền trong xã hội – họ thậm chí không còn là thành phần của xã hội nữa! Những người bị loại trừ không phải là những người ‘bị bóc lột’ mà là những người bị gạt ra ngoài, những ‘đồ thừa’” (EG, 53).
Thêm vào đó, trong xã hội tiêu thụ và kinh tế loại trừ này, người nghèo và yếu thế không còn được xem là “lao động rẻ” như trong các thời kỳ bóc lột, mà bị coi là vô dụng – không còn chỗ đứng trong guồng máy kinh tế, nên bị vứt bỏ như rác thải. Đây không còn là “văn hóa vứt bỏ vật chất” mà là “văn hóa vứt bỏ sự sống”, điều ngược lại với “văn hóa sự sống” mà Giáo Hội luôn cổ vũ.
3. HOÁN CẢI SINH THÁI VÀ LỐI SỐNG MỚI
3.1. Hoán cải sinh thái
Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi mọi người bước vào tiến trình “hoán cải sinh thái toàn diện”, bao gồm thay đổi nhận thức, lối sống và cấu trúc xã hội (x. LS, 217). Điều này đòi hỏi một nền văn hoá tiết độ và biết dừng đủ, thay thế cho chủ nghĩa tiêu thụ. Trong đời thánh hiến, việc sống khó nghèo, chia sẻ và tôn trọng thiên nhiên là chứng tá mạnh mẽ cho tinh thần Tin Mừng.
Hoán cải sinh thái không thể chỉ đến từ những chiến dịch quy mô, mà bắt đầu nơi trái tim từng người. Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi: “Chỉ bằng cách vun trồng các nhân đức vững chắc thì con người mới có thể quên mình cho dấn thân sinh thái. Một người có đủ khả năng chi trả nhưng bớt sử dụng máy sưởi và mặc các loại áo ấm hơn, cho thấy người đó xác tín và có thái độ bảo vệ môi trường. (…) Giáo dục tinh thần trách nhiệm đối với môi trường có thể khích lệ những hành động ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đến thế giới xung quanh, như tránh sử dụng nhựa và giấy, giảm bớt sử dụng nước, phân loại rác, chỉ nấu những gì thực sự cần thiết, quan tâm đến những sinh vật khác, sử dụng phương tiện giao thông công cộng hay đi xe chung, trồng cây, tắt đèn khi không cần thiết, và vô số hành động khác” (LS, 211).
Sự thay đổi đích thực khởi đi từ những hành vi nhỏ, khi chúng ta biết nói lời cảm tạ và từ chối lối sống hoang phí. Người tín hữu được mời gọi thực hành các việc làm nhỏ bé trên và đặc biệt là cầu nguyện cho tạo thành. Trong đời sống thánh hiến, đây không chỉ là việc thực hành lời khuyên Phúc Âm khó nghèo, mà còn là hành trình chiêm niệm và canh tân sứ mạng – sống hiệp thông với Thiên Chúa và thế giới thụ tạo.
Lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong Thông Điệp Laudato Si’ chạm đến tôi: Một con tim được tái tạo bởi cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu không thể dửng dưng trước tiếng kêu của Mẹ đất và của người nghèo. Vì thế, tôi “cần có một sự hoán cải sinh thái, nghĩa là để cho tất cả những hoa trái của cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô được thể hiện ra trong các mối tương quan của tôi với thế giới chung quanh” (LS, 217).
3.2. Lối sống mới
Đời sống thánh hiến vốn được mời gọi sống khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Đây là những giá trị đối nghịch với văn hóa tiêu thụ. Tuy nhiên, ngay trong các cộng đoàn tu văn hóa tiện nghi và hiệu năng cũng có thể len lỏi vào, cũng có nguy cơ xảy ra “văn hóa vứt bỏ”. Và thực tế là những vấn nạn đó đang xảy ra nơi cuộc sống của người sống đời thánh hiến: khi người tu sĩ chạy theo chủ nghĩa tiện nghi vật chất dẫn tới mua sắm vô độ (từ đồ dùng cá nhân đến các đồ dùng trong cộng đoàn: người ta tích trữ trong nhiều tủ, nhiều kho); mua sắm nhiều loại xe cộ máy móc không cần dùng; đập phá-xây dựng nhiều mô hình nhà cửa chưa hợp lý (người xây lên, người đập đổ, cứ lặp đi lặp lại cái vòng luẩn quẩn: xây-đập-xây-đập); sử dụng điện nước cách phung phí như thể là nguồn vô tận; khi người già yếu, bệnh tật hoặc không còn “đóng góp” bị xem nhẹ hay bị coi như “đồ thừa”; khi giá trị truyền thống, đức khiêm nhường, tinh thần khổ chế không còn được trân trọng.
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến -Vita Consecrata, nhắc lại rằng: “Ý nghĩa tiên khởi của khó nghèo là làm chứng cho Thiên Chúa, kho tàng đích thực của trái tim con người. Đức khó nghèo phản đối quyết liệt việc tôn thờ Tiền Tài; nó như thể một lời ngôn sứ vang lên cho xã hội tại nhiều nơi thuộc thế giới giàu sang đang có nguy cơ mất ý thức về mực thước và thậm chí về giá trị của sự vật nữa. Vì vậy mà ngày nay, hơn cả mọi thời đại khác, đức khó nghèo Phúc Âm thu hút chú ý của những người ý thức tài nguyên của hành tinh có giới hạn, đang đòi phải tôn trọng và bảo vệ công trình tạo dựng bằng cách giảm bớt tiêu thụ, biết sống thanh đạm và tự đặt cho mình bổn phận kìm hãm những ước muốn của mình” (VC, 90).
Tôi hiểu rằng sống linh đạo sinh thái không phải là lý thuyết, mà là một lối sống cầu nguyện giữa đời thường – biết tri ân, tiết độ và liên đới. Trong đời thánh hiến, tôi muốn trở nên chứng tá cho một lối sống khác: sống giản dị, yêu thương và chăm sóc, thay vì vứt bỏ. Tôi muốn chọn văn hóa chăm sóc như định hướng sống: chăm sóc ngôi nhà chung, bằng cách sống tiết kiệm và tôn trọng thiên nhiên; chăm sóc con người, nhất là những ai bị bỏ rơi; chăm sóc chính bản thân, để nuôi dưỡng một trái tim trong sáng và biết ơn.
Tôi tin rằng mỗi hành động nhỏ mang tình yêu đều góp phần chữa lành thế giới. Linh đạo sinh thái, khi được sống trọn vẹn, sẽ giúp đời thánh hiến trở nên men và ánh sáng cho một nền văn hóa của sự sống và hiệp thông, nơi không ai bị bỏ rơi, và muôn loài được sống trong sự hòa hợp với nhau và với Thiên Chúa.
KẾT LUẬN
“Văn hoá vứt bỏ” là một cuộc khủng hoảng trầm trọng của con người khi đánh mất căn tính thụ tạo của mình. Giải pháp sâu xa không chỉ là cải tiến công nghệ hay chính sách, mà là “hoán cải tâm linh”. Khi con người học biết yêu, biết tạ ơn, tiết độ và chia sẻ thì thế giới sẽ được chữa lành.
“Văn hóa vứt bỏ” là một lời cảnh tỉnh cho nhân loại và cho mỗi người chúng ta, nhất là những người sống đời thánh hiến. Dưới ánh sáng linh đạo sinh thái, ta được mời gọi hoán cải: với ngôi nhà chung, hãy sống tôn trọng và bảo vệ công trình sáng tạo của Thiên Chúa; với xã hội, hãy phục hồi công bằng và phẩm giá cho người bị bỏ rơi; với người tu sĩ, hãy trở về với căn tính đời sống thánh hiến: thuộc về Thiên Chúa, sống trong hiệp thông với Ba Ngôi và trở nên sứ giả bình an và chữa lành.
Tắt một lời, sống linh đạo sinh thái giữa thời đại “văn hóa vứt bỏ” chính là hành vi thờ phượng Thiên Chúa bằng cả đời sống, để cộng tác với Người xây dựng một thế giới của tình yêu chăm sóc và hy vọng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- KINH THÁNH (2011). Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Nhà xuất bản Tôn Giáo.
- TÔNG HUẤN ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN – VITA CONSECRATA (1996) CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II. Chuyển ngữ: Nhóm Dịch thuật HĐGMVN.
- TÔNG HUẤN NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG – EVANGELII GAUDIUM (2013) CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ. Chuyển ngữ: Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên.
- THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’ (2015) CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ. Chuyển ngữ: Ủy ban Bác ái xã hội – Caritas Việt Nam và bản Tiếng Tây Ban Nha.
- THÔNG ĐIỆP FRATELLI TUTTI (2020) VỀ TÌNH HUYNH ĐỆ VÀ TÌNH BẰNG HỮU XÃ HỘI CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ. Chuyển ngữ: Nhóm Dịch thuật HĐGMVN.



![[TRỰC TIẾP] 🔴 THÁNH LỄ HỒNG ÂN VĨNH KHẤN VÀ TIÊN KHẤN * 08h30′, 15/06/2026 * Dòng Ngôi Lời Việt Nam](https://ngoiloivn.net/wp-content/uploads/2026/06/khan-chung-2-STREAM-s-218x150.jpg)







