CHÚA NHẬT I MÙA CHAY

0
122

Lm. Phêrô Đỗ Văn Năng, SVD

St 9,8-15; 1Pr 3,18-22; Mc 1,12-15

HÀNH TRÌNH VÀO SA MẠC

Như thường lệ, cứ vào thứ Tư hàng tuần, Đức Thánh Cha lại có bài giảng tại quảng trường Thánh Phêrô – Vatican. Thứ Tư khởi đầu Mùa Chay năm 2020 vừa qua, trong bài giảng, vị Cha chung của Giáo Hội mời gọi đoàn con cái khắp thế giới đi vào một hành trình. Hành trình ấy mang tên “hành trình sa mạc”. Sa mạc được Đức Thánh Cha miêu tả là nơi chỉ có tiếng gió và tiếng hơi thở của người lữ khách. Chính sự thinh lặng gần như tuyệt đối đó là cơ hội để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa và Lời của Người. Sa mạc đó cũng được Đức Thánh Cha nói tới như là nơi của sự đơn độc. Và trong sự đơn độc như thế, chúng ta có thể nhận ra những tâm hồn đang phải đối diện với sự cô quạnh sống chung quanh chúng ta. Đó là những người đang chịu sự dày vò tâm can vì lỗi lầm của bản thân hay vì bị hắt hủi bởi người đời. Họ có thể là những người đang sống ngay trong chính ngôi nhà của chúng ta, hoặc hàng xóm bên cạnh chúng ta. Đi vào sa mạc của sự đơn độc như thế, chúng ta có thể nhận ra sứ vụ của mình, từ đó chúng ta cảm thông và chia sẻ để làm vơi đi những nỗi nhọc nhằn của tha nhân.

Bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay hôm nay, thánh Máccô kể về cuộc hành trình vào sa mạc của Chúa Giêsu. Khác với thánh Mátthêu và Luca, thánh sử Máccô đã khéo léo tóm lược câu chuyện trong hai câu, rất ngắn gọn nhưng cũng đầy đủ ý nghĩa. Theo đó, Đức Giêsu mới được Gioan Tẩy Giả làm phép rửa tại sông Giođan. Tại dòng sông này, Người được thánh hiến để trở thành Tôi Tớ của Thiên Chúa. Nhờ vậy, Người được Thiên Chúa xác nhận: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,11). Và liền sau đó, Người được Thần Khí đẩy vào hoang địa. Trong hoang địa, suốt bốn mươi ngày, Người chịu Xatan cám dỗ.

Hình ảnh hoang địa cùng với con số bốn mươi ngày của Chúa Giêsu, điều đó gợi nhớ cho chúng ta về cuộc hành trình bốn mươi năm của dân Chúa trong sa mạc xưa kia. Nó cũng gợi nhớ về khoảng thời gian dân Chúa chịu thử thách. Đó là một cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ để chọn lựa hoặc Thiên Chúa, hoặc các tà thần.

Chúa Giêsu trong thân phận một con người cũng không thoát khỏi những thử thách như dân xưa kia. Thử thách này buộc Người phải chọn lựa một cách dứt khoát: Thực thi thánh ý Chúa Cha hoặc làm theo ý của Xatan. Và cái giá cho sự lựa chọn vâng phục Chúa Cha không hề rẻ: chính mạng sống của Người.

Nhìn sang Tin Mừng Mátthêu, ta sẽ thấy các cám dỗ của Chúa Giêsu được miêu tả chi tiết hơn, gồm ba cơn cám dỗ. Các cơn cám dỗ này dường như gắn liền với những nhu cầu thiết thực nhất của một con người. Đó là các cơn cám dỗ về lương thực qua lời mời gọi của Xatan: biến hòn đá thành bánh; cám dỗ về danh: nhảy xuống từ nóc đền thờ, và nếu thực hiện được, danh tiếng của Chúa sẽ vang vọng khắp vùng; và cám dỗ về lợi ngang qua việc thờ lạy ma quỷ và được chúng hứa ban cho tất cả vinh hoa trần gian (x. Mt 4,1-11).

Cho dù thánh Máccô miêu tả rất ngắn gọn bằng cụm từ “chịu Xatan cám dỗ” (Mc 1,13) nhưng thánh sử cũng không quên nhấn mạnh đến những cơn cám dỗ mà Chúa Giêsu phải liên lỉ đương đầu. Thật thế, ở Tin Mừng Mátthêu, dường như cám dỗ chỉ xảy ra vào những ngày cuối cùng của thời gian trong sa mạc: “Người ăn chay suốt bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói. Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói…” (Mt 4,2-3). Còn ở đây, thánh Máccô cho thấy Chúa Giêsu chịu cám dỗ suốt cả bốn mươi ngày: “Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xatan cám dỗ” (Mc 1,13). Sau khi trình bày ngắn gọn về hành trình sa mạc, thánh Máccô tiếp tục nói về sứ mạng của Chúa Giêsu. Sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, cùng với đó là kêu gọi người ta sám hối và tin để được hưởng ơn cứu độ.

Rao giảng Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa là nhiệm vụ hàng đầu của Chúa Giêsu. Hơn nữa, như chúng ta biết Chúa Giêsu cũng chính là Tin Mừng của Thiên Chúa. Tin Mừng đó nhập thể làm người đã không chọn cho mình một gia đình giàu sang, quyền quý nhưng vào cư ngụ trong một gia đình ở vùng quê Nazarét đơn nghèo. Ngày sinh hạ, chẳng có một quán trọ nào muốn chứa chấp Người. Vì thế, Người phải sinh ra trong máng cỏ bò lừa. Ngay sau đó, vua chúa trần gian tìm giết, khiến cha mẹ phải nhiều lần mang con trốn chạy. Đấng là Tin Mừng của Thiên Chúa và là Thiên Chúa đã sống một cuộc đời trần thế không bằng con chim, con cáo. Và sau cùng, Đấng là Con Thiên Chúa phải chết nhục nhã trên cây thập giá, không một mảnh vải che thân. Đây chính là thánh ý Chúa Cha dành cho Ngài. Xatan cám dỗ Chúa Giêsu từ chối thực thi ý định của Thiên Chúa, nhưng Người không bao giờ chấp nhận. Vì đối với Chúa Giêsu, thánh ý Chúa Cha là lẽ sống của Người.

Thực thi thánh ý của Thiên Chúa luôn là một lời mời gọi đầy thách đố, đòi người ta phải can đảm khước từ những lời mời gọi mật ngọt của ma quỷ. Để làm được như thế, người ta phải sống trong tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Tương quan ấy chính là Giao Ước đã được Thiên Chúa thiết lập từ muôn thuở.

Trong bài đọc thứ nhất, tác giả sách Sáng Thế kể lại việc Đức Chúa thiết lập giao ước của Người với ông Nôê và dòng dõi của ông. Trước khi lập Giao ước với loài người, Thiên Chúa dùng một khoảng thời gian để chuẩn bị và thanh luyện dân. Lụt Hồng Thủy 40 đêm ngày thời Nôê là một tai họa cho nhân loại thời xưa. Sau cơn tàn phá đó, chỉ ông và một số ít người theo ông được cứu thoát. Từ một số ít đó, Thiên Chúa đã ký kết với họ một Giao Ước. Kéo theo đó, một thời kỳ mới được khởi đầu. Đức Chúa hứa sẽ giữ trọn lời Người đã cam kết. Mặt khác, dân cũng phải tuân theo những đòi hỏi của Người. Đòi hỏi ấy mang tên trung thành. Trung thành thờ lạy Thiên Chúa, và dứt khoát khước từ cám dỗ của Xatan.

Ước mong sao Mùa Chay Thánh này, Mùa của thanh luyện, chúng ta ngước nhìn lên Chúa Giêsu và học theo Người. Chúng ta can đảm đi vào sa mạc của cõi lòng để nhìn lại cuộc sống của mình. Từ đó, chúng ta cam kết sống theo những gì Thiên Chúa muốn khi dựng nên chúng ta. Xin Chúa là nguồn tình thương ban sức mạnh cho chúng ta. Amen.