ÁNH SÁNG CỨU ĐỘ (Lời Chúa + Bài giảng Đêm Vọng Phục Sinh – Năm C)

0
444

(Ðề nghị đọc chín bài đọc, bảy bài Trích ở Cựu Ước và hai bài trích ở Tân Ước. Nếu hoàn cảnh không cho phép, và khi có lý do đặc biệt, có thể bớt số bài đọc. Nhưng phải đọc ít là ba bài trích ở Cựu Ước trước Thánh Thư và Tin Mừng; còn nếu gấp quá, thì đọc ít là hai bài đọc trước Thánh Thư và Tin Mừng. Nhưng không khi nào được bỏ bài trích sách Xuất Hành (Xh 14, 15 – 15, 1) nói về việc qua Biển Ðỏ.)

Bài Ðọc I: St 1, 1 – 2, 2 {hoặc 1, 1. 26-31a}

“Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm thật là tốt đẹp”.

Trích sách Sáng Thế.

Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Ðất còn hoang vu trống rỗng, tối tăm bao trùm vực thẳm, và thần trí Thiên Chúa bay sà trên mặt nước.

Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng”. Và có ánh sáng. Thiên Chúa thấy ánh sáng tốt đẹp, Người phân rẽ ánh sáng khỏi tối tăm. Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, tối tăm là đêm. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.

Thiên Chúa phán: “Hãy có một vòm trời ở giữa nước, phân rẽ nước với nước”; và Thiên Chúa làm nên vòm trời, và phân rẽ nước phía dưới vòm trời với nước phía trên vòm trời. Và xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là trời. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai.

Thiên Chúa phán: “Nước dưới trời hãy tụ lại một nơi, để lộ ra chỗ khô cạn. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ khô cạn là đất, và Người gọi khối nước là biển. Thiên Chúa thấy tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: “Ðất hãy trổ sinh thảo mộc xanh tươi mang hạt giống; và cây ăn trái phát sinh trái theo giống nó, và trong trái có hạt giống, trên mặt đất. Và đã xảy ra như vậy. Tức thì đất sản xuất thảo mộc xanh tươi mang hạt theo giống nó, và cây phát sinh trái trong có hạt tuỳ theo loại nó. Và Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.

Thiên Chúa còn phán: “Hãy có những vật sáng trên vòm trời và hãy phân chia ngày và đêm, và trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và năm tháng, để soi sáng trên vòm trời và giãi sáng mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã làm nên hai vầng sáng lớn: Vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày, và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm; Và Ngài cũng làm nên các tinh tú. Thiên Chúa đặt chúng trên vòm trời để soi sáng trên mặt đất, và làm chủ ngày đêm, và phân chia ánh sáng với tối tăm. Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.

Thiên Chúa lại phán: “Nước hãy sản xuất những sinh vật bò sát, và loài chim bay trên mặt đất, dưới vòm trời. Vậy Thiên Chúa tạo thành những cá lớn, mọi sinh vật sống động mà nước sản xuất theo loại chúng, và mọi chim bay tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy nước biển; loài chim hãy sinh cho nhiều trên mặt đất”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.

Thiên Chúa lại phán: “Ðất hãy sản xuất các sinh vật tuỳ theo giống: gia súc, loài bò sát và dã thú dưới đất tuỳ theo loại”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã dựng nên dã thú dưới đất tuỳ theo loại, gia súc, và mọi loài bò sát dưới đất tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất”.

Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.

Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Ðây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.

Thế là trời đất và mọi trang điểm của chúng đã hoàn thành. Ngày thứ bảy Thiên Chúa đã hoàn tất công việc Người đã làm. Và sau khi hoàn tất công việc Người đã làm, thì ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi.

Ðó là lời Chúa.

Hoặc bài vắn này: St 1, 1. 26-31a

Trích sách Sáng Thế.

Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Và Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất”.

Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.

Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Ðây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 32, 4-5. 6-7. 12-13. 20 và 22

Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).

Xướng: 1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. – Ðáp.

2) Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng.- Ðáp.

3) Phúc thay quốc gia mà Chúa là chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Tự trời cao Chúa nhìn xuống, Người xem thấy hết thảy con cái loài người. – Ðáp.

4) Linh hồn chúng tôi mong đợi Chúa, chính Người là Ðấng phù trợ và che chở chúng tôi. – Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. – Ðáp.

Bài Ðọc II: St 22, 1-18 (Bài dài)

“Của lễ hiến tế của Abraham, Tổ phụ chúng ta”.

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: “Abraham, Abraham”. Ông đáp lại: “Dạ, con đây”. Chúa nói: “Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi”. Sáng ngày, Abraham dậy sớm, thắng lừa và đem theo hai đứa đầy tớ của ông, cùng với Isaác con ông, ông chẻ củi dùng vào lễ thượng hiến, đoạn ông lên đường đến chỗ Thiên Chúa đã tỏ cho ông.

Ngày thứ ba, Abraham ngước mắt lên và thấy chỗ ấy từ đàng xa. Abraham mới bảo tôi tớ: “Các anh ở lại đây với con lừa; còn ta và đứa trẻ, chúng ta phải đi tới đằng kia mà thờ lạy, rồi chúng tôi sẽ về lại với các anh”. Abraham lấy củi lễ thượng hiến và cho Isaác vác đi, còn ông thì cầm lấy lửa và dao phay, rồi cả hai cùng bước. Isaác cất tiếng nói với Abraham cha cậu rằng: “Cha!” Ông đáp: “Ta đây, con!” Cậu hỏi: “Này đây đã có lửa và củi, vậy hy sinh thượng hiến ở đâu?” Abraham đáp: “Chính Thiên Chúa sẽ tự liệu ra hy sinh thượng hiến, con ạ”. Rồi cả hai cùng bước.

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: “Abraham! Abraham!” Ông thưa lại: “Dạ, con đây”. Người nói: “Ðừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta”. Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình. Chỗ ấy Abraham gọi tên là “Thiên Chúa sẽ liệu”, khiến ngày nay người ta còn nói: “Trên núi Thiên Chúa sẽ liệu”.

Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: “Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta”.

Ðó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này: St 22, 1-2. 9a. 10-13. 15-18

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: “Abraham, Abraham”. Ông đáp lại: “Dạ, con đây”. Chúa nói: “Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi”.

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: “Abraham! Abraham!” Ông thưa lại: “Dạ, con đây”. Người nói: “Ðừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta”. Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình.

Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: “Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 15, 5 và 8. 9-10. 11

Ðáp: Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con tìm nương tựa Chúa (c. 1a).

Xướng: 1) Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. – Ðáp.

2) Bởi thế, lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy điều hư nát. – Ðáp.

3) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! – Ðáp.

Bài Ðọc III: Xh 14, 15 – 15, 1

“Con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn”.

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: “Có gì mà kêu đến Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ lên đường. Còn ngươi, đưa gậy lên, và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết”.

Sứ thần Thiên Chúa thường đi trước hàng ngũ Israel, liền bỏ trở lại sau họ. Cột mây thường đi phía trước, cũng theo sứ thần trở lại phía sau, đứng giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Israel. Và đám mây thường soi sáng ban đêm trở thành mù mịt, đến nỗi suốt đêm, hai bên không thể tới gần được. Môsê giơ tay trên biển, thì bằng một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, Chúa dồn biển lui và làm cho biển khô cạn. Nước rẽ ra và con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước dựng lên như bức thành hai bên tả hữu.

Người Ai-cập đuổi theo, toàn thể binh mã của Pharaon, chiến xa và kỵ binh đi theo sau Israel vào giữa lòng biển. Lúc gần sáng, qua cột mây lửa, Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Người lật đổ bánh xe, khiến xe tiến tới thật vất vả. Người Ai-cập nói: “Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến đấu giúp họ, chống chúng ta”.

Chúa phán bảo Môsê: “Hãy giơ tay trên biển để nước trở lại vùi dập người Ai-cập, chiến xa và kỵ binh của chúng”. Môsê giơ tay trên biển, và lúc tảng sáng, biển trở lại như cũ. Người Ai-cập chạy trốn, gặp ngay nước biển ập lại. Chúa xô chúng ngã giữa lòng biển. Nước trở lại, vùi dập chiến xa và kỵ binh. Toàn thể quân lực của Pharaon đã theo dân Israel xuống biển, không còn tên nào sống sót. Còn con cái Israel đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước dựng như bức thành hai bên tả hữu. Ngày đó Chúa cứu Israel khỏi tay Ai-cập. Và họ thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ, và thấy cánh tay oai hùng của Thiên Chúa đè bẹp Ai-cập. Toàn dân kính sợ Chúa, tin vào Chúa và vào Môsê tôi tớ người.

Bấy giờ Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Chúa bài ca này:

(Không đọc: Ðó là lời Chúa).

Ðáp Ca: Xh 15, 1-2. 3-4. 5-6. 17-18

Ðáp: Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a).

Xướng: 1) Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả. Người đã ném ngựa và người xuống biển khơi. Chúa là sức mạnh và là khúc ca của tôi, chính Người đã cho tôi được cứu thoát. Người là Thiên Chúa tôi, tôi sẽ tôn vinh Người; Người là Chúa tổ phụ tôi, tôi sẽ hát ca mừng Chúa. – Ðáp.

2) Chúa như là người chiến sĩ, danh thánh Người thật toàn năng. Người đã ném xe cộ và đạo binh của Pharaon xuống biển, và dìm xuống Biển Ðỏ các tướng lãnh của ông. – Ðáp.

3) Các vực thẳm đã chôn sống họ, họ rơi xuống đáy biển như tảng đá to. Lạy Chúa, tay hữu Chúa biểu dương sức mạnh; lạy Chúa, tay hữu Chúa đánh tan quân thù. – Ðáp.

4) Chúa đem con cái Israel trồng trên núi gia nghiệp Chúa, nơi vững chắc Chúa làm nơi cư ngụ, ôi lạy Chúa, là cung thánh tay Chúa đã lập nên; Chúa sẽ thống trị muôn đời muôn kiếp. – Ðáp.

Bài Ðọc IV: Is 54, 5-14

“Trong tình yêu vĩnh cửu, Chúa Cứu Chuộc đã xót thương ngươi”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðấng đã tạo thành ngươi thống trị ngươi, danh Người là Chúa các cơ binh, Ðấng Cứu Chuộc ngươi là Ðấng Thánh Israel, Người sẽ được tôn xưng là Thiên Chúa khắp địa cầu.

Thiên Chúa ngươi đã phán: “Chúa gọi ngươi như gọi người thiếu phụ bị bỏ rơi và sầu muộn, và như người vợ bị bỏ rơi lúc còn xuân xanh. Trong một thời gian ngắn, Ta đã bỏ ngươi, nhưng Ta sẽ lấy lượng từ bi cao cả mà tụ họp ngươi lại. Trong lúc nóng giận, Ta tạm ẩn mặt Ta, nhưng vì lòng nhân từ vô biên, Ta thương xót ngươi, Chúa là Ðấng cứu chuộc ngươi đã phán như vậy.

Cũng như trong thời Noe, Ta đã thề rằng nước lụt Noe sẽ không tràn ngập đất nữa, thì Ta cũng đã thề rằng Ta sẽ không giận ngươi, không quở trách ngươi nữa.

Dù núi có dời, đồi có di chuyển, tình yêu của Ta đối với ngươi không thay đổi, và giao ước bình an của Ta cũng sẽ không lay chuyển, Chúa nhân từ của ngươi đã phán như vậy.

Hỡi thành vô phúc, bị bão táp tàn phá và không ai an ủi, này đây Ta sẽ sắp xếp các viên đá của ngươi cho trật tự, sẽ đặt nền móng ngươi trên ngọc thạch, sẽ lấy đá hồng xây cửa đồn ngươi, sẽ lấy thuỷ tinh làm cửa thành ngươi, sẽ dùng đá quý xây tường thành ngươi.

Tất cả con cái ngươi sẽ được Chúa dạy bảo, chúng sẽ vui hưởng một nền hoà bình lâu dài. Ngươi sẽ đứng vững trong công lý, và xa mọi đàn áp, ngươi sẽ không còn sợ, và sống xa mọi khủng bố, vì sẽ không có ai hãm hại được ngươi nữa”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 29, 2 và 4. 5-6. 11 và 12a và 13b

Ðáp: Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. – Ðáp.

2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ.- Ðáp.

3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con. Lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con; lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. – Ðáp.

Bài Ðọc V: Is 55, 1-11

“Hãy đến cùng Ta và hồn các ngươi sẽ được sống.

Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Chúa phán: Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ bổ và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mĩ vị.

Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là những hồng ân đã hứa cho Ðavít: Ðây Ta đặt ngươi làm nhân chứng cho các dân, làm tướng lãnh tôn sư cho các dân tộc. Này ngươi sẽ kêu gọi dân mà trước ngươi không biết, và các dân trước chưa biết ngươi, sẽ chạy đến cùng ngươi, vì Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng Thánh Israel, bởi vì Chúa làm cho ngươi được hiển vinh.

Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót, hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ. Vì tư tưởng Ta không phải tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thể ấy.

Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn; cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6

Ðáp: Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng Cứu Ðộ (c. 3).

Xướng: 1) Ðây Thiên Chúa là Ðấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Ðấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi. – Ðáp.

2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người, hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa, hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang. – Ðáp.

3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu, hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Ðấng cao cả là Ðấng Thánh Israel ở giữa ngươi. – Ðáp.

Bài Ðọc VI: Br 3, 9-15. 32 – 4, 4

“Ngươi hãy đi trong đường ánh sáng của Chúa”.

Trích sách Tiên tri Barúc.

Hỡi Israel, hãy nghe các giới răn ban sự sống; hãy lắng tai nghe để hiểu biết sự khôn ngoan.

Hỡi Israel, bởi đâu ngươi ở trong đất nước quân thù, ngươi mòn mỏi trên đất khách, nhiễm lây nhơ bẩn của người chết, bị liệt vào kẻ phải xuống địa ngục? Ngươi đã lìa bỏ nguồn khôn ngoan. Vì chưng nếu ngươi theo đường lối Chúa, thì ngươi đã luôn sống trong bình an. Ngươi hãy học xem đâu là sự khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là sự thông hiểu, để ngươi cũng hiểu biết đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng con mắt và bình an. Ai là người sẽ tìm được nơi cư ngụ của sự khôn ngoan, ai đi vào trong kho tàng của nó? Chính Ðấng thấu suốt mọi sự, Người biết nó: Người thấu suốt nó do đức khôn ngoan của Người.

Người là Ðấng đã an bài vũ trụ đến muôn đời, và cho các gia súc và các thú bốn chân sống đầy mặt đất. Người sai ánh sáng đi thì nó đi, gọi nó lại thì nó run sợ vâng lời Người. Các ngôi sao ở vị trí mình mà chiếu sáng và đều vui mừng. Người gọi chúng thì chúng trả lời rằng: “Có mặt”. Chúng vui mừng chiếu sáng trước mặt Ðấng sáng tạo chúng.

Người là Thiên Chúa chúng ta, và không có chúa nào khác sánh được với Người. Người đã biết mọi đường lối khôn ngoan, đã ban nó cho Giacóp tôi tớ Người và cho Israel kẻ người yêu mến. Sau đó, Người xuất hiện trên mặt đất và sống giữa loài người.

Ðó là sách ghi các giới răn Chúa và lề luật tồn tại muôn đời, tất cả những ai tuân giữ lề luật thì được sống, còn ai bỏ thì phải chết. Hỡi Giacóp, hãy trở về và nắm giữ lề luật; hãy nhờ ánh sáng của Người mà tiến đến sự huy hoàng của Người. Ðừng trao vinh quang ngươi cho kẻ khác, cũng đừng trao đặc ân ngươi cho dân ngoại. Hỡi Israel, chúng ta có phúc, vì chúng ta đã được biết những gì là đẹp lòng Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 18, 8. 9. 10. 11

Ðáp: Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).

Xướng: 1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. – Ðáp.

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. – Ðáp.

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thực, công minh hết thảy. – Ðáp.

4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng, ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy từ tàng ong. – Ðáp.

Bài Ðọc VII: Ed 36, 16-17a. 18-28

“Ta sẽ đổ trên các ngươi nước trong sạch và sẽ ban cho các ngươi quả tim mới”.

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Ðây lời Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, khi dân Israel cư ngụ trên đất mình, họ đã làm dơ bẩn đất ấy bằng đời sống và việc làm của họ. Và Ta đã nổi giận họ, vì họ đã đổ máu trên phần đất ấy, và vì các thần tượng họ thờ làm dơ bẩn phần đất ấy. Ta đã phân tán họ đi khắp các dân tộc, và cho họ sống rải rác trong các nước; Ta đã xét xử theo đời sống và việc làm của họ. Họ đã đi đến các dân tộc và ở đó họ xúc phạm thánh danh Ta, vì thiên hạ nói về họ rằng: “Này là dân của Chúa, họ bị đuổi ra khỏi đất của Người”. Và Ta đã thương hại thánh danh Ta mà nhà Israel đã xúc phạm nơi các dân tộc họ đến cư ngụ.

Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Israel rằng: “Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, nhưng vì thánh danh Ta đã bị các ngươi xúc phạm nơi các dân tộc mà các ngươi đi đến cư ngụ. Ta sẽ thánh hoá danh cao cả Ta đã bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh phán, khi Ta tự thánh hoá nơi các ngươi trước mặt họ.

Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt thần.

Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 41, 3. 5bcd; Tv 42, 3. 4

Ðáp: Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa, Chúa Trời ôi! (c. 41, 2)

Xướng: 1) Hồn con khát Chúa Trời, Chúa Trời hằng sống: ngày nào con được tìm về ra mắt Chúa Trời? – Ðáp.

2) Tôi nhớ lúc xưa đi giữa muôn người, tôi đứng đầu đưa dân tiến vào nhà Ðức Chúa Trời, giữa muôn tiếng reo mừng, ca ngợi.- Ðáp.

3) Xin chiếu giãi quang minh và chân thực của Chúa, để những điều đó hướng dẫn con, đưa con lên núi thánh và cung lâu của Ngài. – Ðáp.

4) Con sẽ tiến tới bàn thờ Thiên Chúa, đến cùng Thiên Chúa làm cho con được hoan hỉ mừng vui. Với cây cầm thụ, con sẽ ca ngợi Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa của con. – Ðáp.

Hoặc (khi có Rửa tội): Tv 50, 12-13. 14-15. 18-19

Ðáp: Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).

Xướng: 1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. – Ðáp.

2) Xin Chúa lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. – Ðáp.

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. – Ðáp.

Bài Ðọc Thánh Thư: Rm 6, 3-11

“Chúa Kitô, một khi tự trong cõi chết sống lại, Người không chết nữa”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.

Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy. Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi.

Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô, một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23

Ðáp: Alleluia, alleluia, alleluia.

Xướng: 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”. – Ðáp.

2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. – Ðáp.

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. – Ðáp.

Phúc Âm Năm C: Lc 24, 1-12

“Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết?”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mồ mang theo những thuốc thơm đã dọn sẵn. Thấy hòn đá đã lăn ra khỏi mồ, nhưng bước vào, các bà không thấy xác Chúa Giêsu. Ðang khi các bà còn ngơ ngác không hiểu việc đó, thì có hai người đứng gần các bà, y phục sáng chói. Các bà kinh hãi cắm mặt xuống đất, thì hai người lên tiếng bảo: “Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết? Người không còn ở đây. Người đã sống lại, các bà hãy nhớ lại Người đã nói với các bà thế nào khi Người còn ở xứ Galilêa. Người đã nói: Con Người phải bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi, bị đóng đinh vào thập giá và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Và các bà nhớ lại những lời Người đã nói.

Bỏ mồ đi về, các bà tường thuật lại tất cả sự việc cho mười một Tông đồ và các người khác. Các bà đó là Maria Mađalêna, Gioanna, Maria mẹ Giacôbê; và những người nữ khác cùng đi với họ cũng nói như vậy với các tông đồ. Nhưng những lời đó, các ông cho là truyện vớ vẩn, nên các ông không tin. Dầu vậy Phêrô cũng đứng dậy chạy ra mồ, nhưng khi cúi xuống nhìn, ông chỉ thấy những khăn liệm nằm đó và ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự đã xảy ra.

Ðó là lời Chúa.

—————–

Bài giảng 1:

ÁNH SÁNG CỨU ĐỘ ( Lm. Giacôbê Nguyễn Hoàng Long, SVD)

Chính đây là đêm, nhờ ánh sáng cột lửa thiêng xua tan bóng đen tội lỗi nhân gian. Đây là đêm, mà hôm nay ai tin cậy nơi Chúa Kitô khắp trên trần gian, được cứu thoát hết các vết nhơ và tối tăm tội khiên, được ơn thiêng đưa về hợp đoàn cùng các thánh nhân”. và “là đêm mà xiềng xích bị bẻ tung, Đức Kitô khải hoàn chiến thắng vinh quang”. Đó là những lời mà chúng ta vừa được nghe trong bài Exsultet. Thật vậy, đêm vọng Phục Sinh là đêm mà toàn thể người Công Giáo cùng quây quần bên ánh lửa của cây nến Phục Sinh. Ánh lửa ấy tượng trưng cho chính Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chiến thắng tử thần và phục sinh vinh hiển. Ánh sáng đó đã xóa tan bóng đêm u ám của cái chết trên đồi Gôngôtha chiều thứ Sáu. Ánh sáng đó lan tràn đến đâu thì bóng tối bị đẩy lùi, ánh sáng đó chiếu tỏa đến đâu thì ở đó sự chết bị tiêu diệt. Ánh sáng ấy chính là niềm mong đợi của dân Ítraen xưa và đã được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu Kitô Phục Sinh.

Phụng vụ hôm nay, Giáo Hội cũng đưa chúng ta đi từ bóng tối đến ánh sáng, từ bóng đêm của thất vọng đến ánh sáng của niềm hy vọng, từ bóng tối của sự u buồn đến ánh vinh quang của niềm vui sướng hân hoan nơi mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô Chúa chúng ta. Các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay nhắc lại cho chúng ta những cột mốc quan trọng trong lịch sử cứu độ. Toàn bộ kế hoạch này là tình yêu thương mà Thiên Chúa dành cho muôn loài thụ tạo. Câu chuyện trong sách Sáng Thế nhắc lại cho chúng ta thấy tình trạng hạnh phúc tuyệt vời của con người khi đang sống trong tương quan thật tốt đẹp với Thiên Chúa. Thế nhưng tình trạng tốt đẹp ấy đã bị phá hỏng khi ông bà Nguyên Tổ phạm tội, bóng tối của chết và đau khổ đã tràn vào thế gian. Nhưng tội đã được tẩy xóa nhờ cái chết và sự Phục Sinh của Chúa Kitô. Ánh sáng Phục Sinh của Đức Kitô đã xóa tan bóng đêm của sự chết.

Niềm tin vào Đấng Phục Sinh được Tin Mừng theo thánh Luca trình bày qua sự kiện các phụ nữ, những người yêu mến Chúa Giêsu đi thăm mộ Ngài lúc tờ mờ sáng của ngày thứ nhất trong tuần: “Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn. Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giêsu đâu cả”. (Lc 24,1-3). Tảng sáng là khi mặt trời vừa ló dạng, ngày thứ nhất trong tuần khi mặt trời vừa ló dạng là một bức tranh diễn tả một sự khởi đầu mới. Và Đức Kitô Phục Sinh chính là Ánh Sáng mới chiếu soi vào bóng tối của đêm đen, chiếu soi vào thế gian. Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài Giảng Lễ Vọng Phục Sinh vào ngày 11/4/2020 tại Đền Thờ thánh Phêrô đã gọi đó là “Bình minh của ngày thứ nhất trong tuần”, ngày sẽ thay đổi lịch sử.

Thế nhưng lòng các bà vẫn còn nặng trĩu với nhưng hoang mang và lo sợ. Đọc bài Tin Mừng chúng ta thấy rằng việc các bà đi ra mồ lúc này là để thăm mộ Đức Giêsu, là để hoàn tất việc mai táng đã được thực hiện cách vội vã vào chiều thứ Sáu trước ngày Sabát. Bóng tối dường như vẫn còn bao phủ tâm trí họ, ánh sáng của Đấng Phục Sinh vẫn chưa soi rọi vào tâm hồn của họ, thế nên họ vẫn còn hoang mang, nhất là khi gặp thấy “ngôi mộ trống”. Tin Mừng Gioan còn kể cho chúng ta biết việc bà Mađalêna khóc lóc kể lại cho các môn đệ khi thấy ngôi mộ trống: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu” (Ga 20,2). Cho nên thay vì nhận ra dấu chỉ của ngôi mộ trống là việc Đức Giêsu đã phục sinh, đã trỗi dậy và ra khỏi mồ thì các bà lại hoang mang lo sợ.

Thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của các phụ nữ, thiên thần đã hiện ra trấn an các bà: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi.” (Lc 24,5). Tình yêu của các bà dành cho Chúa Giêsu đã thôi thúc các bà ra thăm mồ Chúa khi mặt trời vừa ló rạng. Tình cảm, lòng yêu mến và trực giác của các bà chưa thể làm cho các bà gặp được Đấng Phục Sinh, thế nhưng chính lòng yêu mến ấy, trực giác ấy, tình cảm ấy lại rất cần thiết để các bà được gặp Chúa Phục Sinh. Bởi chính khi đi tìm Đức Giêsu để chăm sóc thân xác đã chết của Ngài, các bà nhận được Tin Mừng Phục Sinh.

“Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sẽ sống lại”. Trước sự hoang mang của những người phụ nữ ấy, các thiên sứ nhắc lại cho các bà những điều Đức Giêsu đã nói đã làm khi còn ở Galilê. Chính những kỷ niệm này giúp các bà lấy lại niềm tin và niềm hy vọng mà các bà đã có khi đi theo Chúa Giêsu. Các bà đã rất vui mừng và thêm xác tín vào những lời Đức Giêsu đã nói với các bà trước đó, vì thế, họ hân hoan trở về và báo tin mừng này cho các môn đệ.

Còn về phần các môn đệ, sau cái chết của Thầy, bầu trời dường như sụp đổ trên các ông. Các ông bị tản mát, niềm tin tan nát, hy vọng bị dập tắt. Có thể nói tâm trạng các môn đệ chất chứa một nỗi buồn mênh mang, pha lẫn những mối hoài nghi, ngờ vực xen lẫn với nổi thất vọng. Niềm tin nơi các ông bị chao đảo vì bao mộng ước nay chẳng thành, bao dự tính giờ tiêu tan, tương lai phía trước trở nên mịt mù và vô định. Thế nên  “Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin.” (Lc 24,9-11). Tin báo “Đức Giêsu, Thầy mình đã chết và đã sống lại”  của các bà không dễ tin đối với các môn đệ, thế nhưng đó lại là một tia sáng lóe lên trong bóng tối nơi tâm hồn các ông: “Dầu vậy, ông Phêrô cũng đứng lên chạy ra mộ. Nhưng khi cúi nhìn, ông thấy chỉ còn có những khăn liệm thôi. Ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra.” (Lc 24,12).

Quả thật sự kiện Chúa Giêsu Phục Sinh là một việc vượt quá trí hiểu của những người phụ nữ cũng như các môn đệ lúc bấy giờ, thế nhưng đó lại là một niềm vui khôn tả đối với họ. Nếu cái chết của Chúa Giêsu như bóng đêm bao phủ những người theo Đức Giêsu thì Tin Mừng Phục Sinh như một ánh sáng xóa tan bóng tối của hoang mang và sợ hãi ấy. Ánh sáng Phục Sinh đến, họ không còn đau buồn nữa nhưng tràn ngập niềm vui, không còn sợ hãi lẫn trốn nữa mà can đảm bước ra để rao giảng Tin Mừng Phục Sinh cho muôn người. Ánh sáng Chúa Kitô là ánh sáng lóe lên từ trong tâm hồn những ai gắn bó với Ngài, giúp cho họ tìm thấy hy vọng, niềm vui và hạnh phúc đích thực không bao giờ lụi tàn.

Ngày nay chúng ta đang sống trong thời kỳ mà người ta gọi là thời kỳ ánh sáng, thời đại văn minh. Thế nhưng bóng tối vẫn còn chiếm lấy nhiều nơi trong thế giới của chúng ta. Đó là bóng tối của sự ngờ vực, bóng tối của sự thất vọng, bóng tôi của sự hận thù. Niềm tin không còn nơi nhiều người, nhiều nơi trên thế giới tình yêu dường như đang vắng bóng. Chúa Kitô Phục Sinh là ánh sáng không bao giờ tàn lụi chiếu soi vào bóng tối của sự nghi ngại, của tội lỗi. Đêm nay, khi mỗi chúng ta được đón nhận ánh sáng từ cây nến phục sinh, đó cũng chính là Chúa đang mời gọi mỗi người Kitô hữu trở nên những tia sáng để dẫn người khác đến với ánh sáng Chúa Kitô, mỗi người phải trở thành những chứng nhân của con cái Ánh Sáng.

Mừng đại lễ Chúa Phục Sinh, xin cho ánh sáng của Chúa Phục Sinh đốt lên trong chúng ta lòng mến nồng nàn để ta biết yêu mến ánh sáng và sống trong ánh sáng Phục Sinh. Nguyện xin Chúa Kitô Phục Sinh chiếu rọi ánh sáng của Ngài trên cuộc đời mỗi người chúng ta để chúng ta nên ánh sáng chiếu soi cho những người chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

————————–

Bài giảng 2:

CHÂN THÀNH THEO CHÚA (Phó tế Phêrô Nguyễn Quốc Hưng, SVD)

Câu chuyện mấy bà đi tảo mộ Chúa rất có ý nghĩa cho tiến trình đức tin. Đức tin, lúc bắt đầu, là một sự cất bước không đắn đo suy tính, đi tìm một Đấng mà người ta không biết được toàn thể mầu nhiệm. Các bà chưa được biết mầu nhiệm Chúa Giêsu, nhưng sự chân thành của các bà dần dẫn đến đức tin.

Sự chân thành tìm kiếm

Lòng chân thành tìm kiếm thôi thúc những người phụ nữ tìm mọi cách để gặp lại Đấng mà họ yêu mến, mặc dù Đấng ấy đã chết ba ngày rồi. Tác giả Luca tường thuật, “Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo hương liệu đã chuẩn bị sẵn” (Lc 24,1).

Thế nhưng vừa ra đến nơi chôn cất Chúa, thì nhóm phụ nữ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, khiến các bà hoang mang và sợ hãi. Nào là tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, nào là bỗng nhiên xuất hiện hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ… Chắc hẳn khi chứng kiến những điều đó, các bà rất lo lắng, cảm thấy phân vân và dĩ nhiên là chẳng hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra trước mắt họ.

Đức tin là xác tín vào những điều mình chưa thấy, và phần thưởng của đức tin là sẽ thấy những điều mình sẽ tin. Giống như tác giả thư Do Thái đã khẳng định: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy … Mà không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm người” (Dt 11,1.6).

“Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24,6-7). Kỷ niệm quá khứ phục hồi niềm tin của các bà, và đó chính là sứ điệp mà các người phụ nữ này nhận được “Chúa Đã Phục Sinh”, một phần thưởng dành cho sự chân thành tìm kiếm.

Chân thành gắn bó

Kết quả của tìm kiếm là sự gặp gỡ, nhưng gặp gỡ mới chỉ là khởi đầu đích thực cho một đời chân thành gắn bó mến yêu. Nếu chỉ đón nhận đức tin không thì chưa đủ, mà còn phải sống đức tin ấy trong cuộc sống hàng ngày qua những hành vi được đức ái thúc đẩy và lòng mến cuốn hút. Tin vào Tin Mừng có nghĩa là sống gắn bó với con người, đời sống và sứ điệp yêu thương của Đức Giêsu.

Nhìn lại hành trình rao giảng công khai của Đức Giêsu, rất nhiều người đã tìm đến gặp gỡ và đi theo Người, thậm chí còn kề cận ăn uống với Người, nhưng không phải ai trong số những người này cũng minh chứng được sự chân thành gắn bó. Một sự thực đau lòng là sự trái ngược giữa lúc dân chúng đến với Đức Giêsu, tung hô người “Con Vua Đavít”, trải áo, trải lá đón rước người vào thành Giêrusalem, và thái độ thù nghịch, đòi đóng đinh Người trong cuộc thương khó đau thương. Thay vào những tiếng hô tưng bừng, hoan hỉ “Con Vua Đavít”, giờ đây là những tiếng gào thét, phẫn nộ, cùng với sự cuồng loạn “Đem đi, đóng đinh nó vào thập giá!”

Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai. Nhóm người được cho là thân cận nhất, gần gũi nhất bỏ chạy như đàn kiến vỡ tổ, người thì bỏ trốn, kẻ thì đứng xa xa. Thế mới biết gắn bó có năm bảy đường. Gắn bó lúc bình an, thật dễ dàng, nhưng gắn bó ngay cả lúc gian nan mới sáng lên sự chân thành của cuộc đời mến yêu. Chính ở đây sự chân thành đồng nghĩa với lòng trung tín.

Mầu nhiệm Vượt Qua được ghi dấu ấn là sự trung thành ở nhiều cấp độ. Không chỉ là những người theo sát bên Đức Giêsu trong sứ vụ rao giảng công khai mà các bà còn được thúc đẩy đi đến thập giá và mộ Đức Giêsu do sợi dây đức tin liên kết họ bền chặt với Đức Giêsu, do lòng trung thành của họ; nhờ đó, họ là những người đầu tiên được biết sứ điệp Phục Sinh. Thiên Chúa không bỏ rơi Đức Giêsu vì Đức Giêsu đã trung thành với ý muốn của Chúa Cha cho đến chết trên thập giá, nên Chúa Cha đã làm cho Con Một Ngài là Đức Giêsu sống lại từ cõi chết.

Chính vì thế đức tin phải đi đôi với lòng trung thành và sự tín thác. Nên thánh chính là sự trung thành với đức tin đã lãnh nhận, và cố gắng mỗi ngày để đức tin ấy được trọn vẹn tinh tuyền nơi cuộc đời của người tin.

Chân thành loan báo Tin Mừng

Người đã phục sinh! Tin vui này, mặc dù theo quan niệm của nhiều người cũng giống như thái độ lúc đầu của các môn đệ, chỉ là vớ vẩn “Khi từ mộ trở về, các bà báo cho Nhóm Mười Một và mọi người khác hay tất cả những sự việc ấy… Nhưng các ông cho đó là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin các bà” (Lc 24,9.11); họ cho là chuyện người chết sống lại là điều không tưởng. Nhưng với niềm tin tinh tuyền và kiên vững, Giáo Hội hôm nay tiếp tục loan báo cho toàn thế giới niềm xác tín không lay chuyển của mình vào Đức Giêsu Kitô Phục Sinh.

Các phụ nữ này đã báo tin cho các môn đệ về sự việc Chúa đã sống lại với tất cả sự chân thành, trung thực, thế nhưng, về phần các môn đệ, mọi chuyện vẫn mơ hồ, nên Tin Mừng Phục Sinh của Chúa giống như một chuyện “vớ vẩn”, chẳng đáng tin. Để rồi chính vị tông đồ cả là Phêrô đích thân chạy ra mộ của Thầy mình, xem thấy mọi việc và “kinh ngạc về sự việc đã xảy ra” (Lc 24,12), nhưng đức tin của Phêrô vẫn còn là câu chuyện bỏ ngỏ.

Tin Mừng “Chúa Kitô đã Phục Sinh” bao giờ cũng là một tin khó đón nhận và khó rao truyền nhất, bởi vì nó hoàn toàn ngược với lý trí và kinh nghiệm bình thường của con người. Có bao giờ chúng ta tự nhiên đến với Đức Kitô mà vẫn cảm thấy một khoảng không mênh mông của đức tin? Khoảng không đó cần thiết cho đức tin của chúng ta được “thử lửa” để trở nên sâu sắc hơn? Chúng ta làm điều hợp lý khi nghe theo nội tâm thúc giục chúng ta tìm đến Đức Kitô.

Trong cuộc sống đức tin, mỗi người chúng ta đã nhiều lần đứng trước ngôi mộ trống của Chúa Giêsu, đó là những lần chúng ta băn khoăn đi tìm câu trả lời cho ý nghĩa đích thực của đời Kitô hữu. Dù đã được học hỏi về đức tin Kitô, đã được nghe giảng Lời Chúa, đã được chia sẻ kinh nghiệm sống đức tin của biết bao thế hệ tín hữu, nhưng những điều ấy không miễn cho chúng ta phải đối diện với đức tin của chính mình. Đối với chúng ta là Kitô hữu, mầu nhiệm Phục sinh soi sáng cuộc đời, đem lại và thắp lên niềm hy vọng giữa những bộn bề lo toan của cuộc sống.

Chúng ta được mời gọi hãy sống lại với Người. Xin cho mỗi người biết khao khát chân thành tìm kiếm đức tin và luôn trung thành với đức tin đó, dù đường đời còn nhiều chông gai, thử thách. Xin cho niềm tin Phục sinh tràn đầy tâm hồn, để mọi người vui sống với đức tin tròn đầy của mình để rồi mạnh dạn làm chứng và tuyên xưng Danh Thánh Giêsu một cách chân thành và sáng tạo trong cuộc sống hàng ngày. Chỉ khi ta biết chân thành tìm kiếm, chân thành gắn bó và chân thành rao giảng thì Tin Mừng Phục Sinh mới trở thành đức tin, trở thành máu thịt trong đời sống ta.

 

 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây