LỜI SỐNG (Chúa Nhật, Tuần 25 TN – NĂM A)

0
3

Bài đọc 1: Is 55,6-9

Bài đọc 2: Pl 1,20c-24.27a

Tin Mừng: Mt 20,1-16a

Khi ấy, Đức Giêsu kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này: “Nước Trời giống như chuyện chủ nhà kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy những người khác không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: ‘Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng’. Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: ‘Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?’. Họ đáp: ‘Vì không ai mướn chúng tôi.’ Ông bảo họ: ‘Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!.’ Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: ‘Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất’. Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn chủ nhà […]

SUY NIỆM:

LÒNG NHÂN HẬU CỦA THIÊN CHÚA (Thầy Phó tế Giuse Nguyễn Đình Trường, SVD).

Theo lẽ thường, con người vẫn thường “cân đo đong đếm” người khác bằng những thước đo theo kiểu làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít… Đó là lăng kính thông thường của con người và lắm lúc chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa cũng hành xử như vậy. Thế nhưng, lối suy nghĩ tưởng chừng như hợp lý ấy vô hình chung lại đóng khung lòng thương xót của Thiên Chúa. Thế mà, đường lối của Thiên Chúa lại vượt xa đường lối của chúng ta và tình thương của Ngài không bị giới hạn nhưng tràn đầy nhân hậu, kiên nhẫn và tha thứ. Các bài đọc Lời Chúa hôm nay, đặc biệt là bài Tin Mừng theo thánh Mátthêu diễn tả cách sống động lòng nhân hậu, sự quảng đại của Thiên Chúa và chuẩn mực ấy vượt qua mọi thước đo thông thường của con người.

  1. Cách Hành Xử “Khác Lạ” Của Ông Chủ Vườn Nho

Dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay gợi lên không ít điểm khiến độc giả phải thắc mắc và thậm chí có cả những nghi ngại về lối hành xử của ông chủ vườn nho trong dụ ngôn. Những người được thuê làm vườn nho ngay từ lúc sáng sớm lại nhận được cùng một số tiền công với những người bắt đầu làm từ giờ thứ ba, thứ sáu và thứ chín, thậm chí, ngang bằng với cả những người vào làm khi đồng hồ đã điểm giờ thứ mười một. Có lẽ, độc giả phần nào đồng cảm với lời than phiền của những người đã được mướn ngay từ lúc sáng sớm: “Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?” (Mt 20,12). Những người thợ được mướn trước nhất cảm thấy khó hiểu với cách trả tiền công có vẻ khác lạ của ông chủ. Khi chứng kiến những người mới vào làm lúc giờ mười một được lãnh một quan tiền, những người vào làm trước nhất nghĩ rằng họ sẽ được lãnh nhiều hơn. Thế nhưng, số tiền họ nhận được cũng chẳng khác gì so với những người kia. Điều đó khiến họ không vui và dẫn tới những lời than phiền. Vậy liệu rằng cách ông chủ trả tiền công cho những người thợ này có gì không công bằng hay chăng?

Trước hết, trình thuật Tin Mừng cho thấy rằng những người thợ được thuê làm từ buổi sáng sớm đã nhận được đúng số tiền công mà họ đã thoả thuận với ông chủ lúc ban đầu, nghĩa là một đồng. Điều đó có nghĩa là ông chủ vườn nho đã đối xử công bằng với họ. Vậy do đâu mà những người này lại tỏ ra khó chịu và than phiền ông chủ? Lời của ông chủ cho chúng ta thấy rõ động lực của lối suy nghĩ tiêu cực này: “Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?” (xc.15). Phải chăng sự tốt lành của ông chủ khiến họ cảm thấy tức tối và khó chịu? Thật vậy, ông chủ vườn nho đã hành xử công bằng với những người thợ được mướn từ sáng sớm, bên cạnh đó, ông cũng thực thi lòng nhân từ với những người vào làm sau hết. Ông chủ có quyền cho người này kẻ khác được những ân huệ của ông và dĩ nhiên, điều đó không gây thiệt hại hay bất công với những người khác. Quả thật, ông chủ trong dụ ngôn không những là hành xử công bằng mà còn giàu lòng nhân từ.

Ông chủ tốt lành trong dụ ngôn chính là hình ảnh về Thiên Chúa. Và cách cư xử đầy nhân từ của ông cũng phần nào diễn tả cách Thiên Chúa đối xử với con người. Thiên Chúa luôn yêu thương và nhân hậu với hết thảy mọi người, ngay cả với những người tội lỗi. Người thợ đến làm giờ cuối trong dụ ngôn Tin Mừng hôm nay vẫn được lãnh tiền công như người làm từ sáng sớm. Điều ấy làm nhiều người ngạc nhiên, thậm chí bất bình, nhưng lại diễn tả một sự thật nền tảng, đó là Thiên Chúa ban ơn không phải vì con người xứng đáng, nhưng vì Ngài yêu thương chúng ta. Thiên Chúa không muốn để mất một ai và mọi người đều được mời gọi vào làm trong vườn nho của Ngài, bất kể họ đến sớm hay muộn, miễn là họ sẵn sàng đáp lại tiếng Ngài. Lòng nhân hậu của Chúa khai mở một tương lai cho những người tội lỗi. Điều đó lắm lúc vượt quá lối suy nghĩ và cách hành xử thông thường của con người. Bài đọc thứ nhất trích trong sách ngôn sứ Isaia cho chúng ta thấy rõ tư tưởng của Thiên Chúa khác xa với tư tưởng của con người: “Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55,8). Khi lấy tư tưởng của con người làm hệ quy chiếu, quả thật, cách hành xử của ông chủ vườn nho xem ra là thiếu công bằng hay thiếu tình người với nhóm thợ đã bỏ nhiều thời giờ hơn để làm trong vườn nho của ông. Thế nhưng, nếu chúng ta đặt hệ quy chiếu nơi Thiên Chúa, quả thật, câu chuyện sáng rõ hơn rất nhiều. Chính tình yêu của Ngài đã làm nên những điều thật “khác lạ” với cách mà con người vẫn thường làm. Nhờ đó, chúng ta cảm nếm được tình yêu của một vị Thiên Chúa giàu lòng nhân hậu, Đấng luôn quảng đại thứ tha và mở đường đón nhận mọi tội nhân trở về. Thiên Chúa luôn kêu gọi mọi người tin tưởng vào lòng thương xót của Ngài, Đấng hằng ban phát mọi ân huệ cách nhưng không, cho người đến trước lẫn kẻ đến sau, người công chính cũng như tội nhân.

  1. Đâu Là Cách Hành Xử Của Con Người?

Ông chủ trong dụ ngôn đã trao ban ân huệ cho những người được gọi vào sớm cũng như kẻ được thuê mướn khi đã chiều muộn. Thiên Chúa cũng vậy, Ngài cũng tỏ lòng nhân hậu với hết thảy mọi người. Như vậy, Thiên Chúa, Đấng luôn giữ lòng trung tín, cũng là Đấng tự do, quảng đại trong tình yêu. Chúng ta được mời gọi vào làm trong vườn nho của Thiên Chúa, được mời gọi đến lãnh nhận hạnh phúc Nước Trời dù rằng tự công trạng bản thân, chúng ta chẳng hề xứng đáng. Đó quả là niềm hạnh phúc lớn lao dành cho mỗi người, đang khi còn là những tội nhân. Vậy chúng ta cần có thái độ nào trước lòng nhân từ của Thiên Chúa?

Trước hết, chúng ta cần nhận ra lòng thương xót của Chúa trong cuộc đời mình và đáp trả lời mời gọi của Ngài. Trong bài đọc thứ hai trích từ thư gửi tín hữu Philípphê, thánh Phaolô nhắn nhủ những ai nhận ra lòng quảng đại của Thiên Chúa thì hãy sống xứng đáng với Tin Mừng bằng một đời sống công chính, hy sinh và dấn thân phục vụ. Thông điệp ấy được minh chứng bằng chính cuộc đời của thánh nhân. Thánh Phaolô được Thiên Chúa kêu mời làm người phục vụ Tin Mừng “muộn hơn” so với những vị tông đồ khác. Thế nhưng, Ngài cảm nhận được ơn Chúa vẫn tuôn đổ dồi dào trên Ngài. Ngài xác tín vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Để rồi, thánh nhân hăng say loan báo tình yêu Thiên Chúa. Ngay cả trong cảnh tù ngục, Ngài vẫn tín thác vào Đức Kitô: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21).

Kế đến, chúng ta cũng được mời gọi để nhìn lại phản ứng của mình với những người xem ra “làm ít giờ hơn” chúng ta. Đó có thể là những người tội lỗi, những người mới nhận biết Chúa và cả những người chưa biết Chúa. Chúng ta có vui mừng vì họ được Chúa ban ơn không hay chúng ta lại “ganh tị với lòng tốt” của Chúa như những người thợ trong dụ ngôn hôm nay? Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy biết vui mừng khi người khác được Chúa yêu thương và ban ơn, thay vì ganh tị. Đồng thời, chúng ta cũng cần từ bỏ ánh nhìn “đo lường” lòng nhân từ của Thiên Chúa và “so đo” với những ơn lành mà tha nhân được nhận lãnh. Đứng trước ân ban của Thiên Chúa, mỗi người được mời gọi hãy sống yêu thương quảng đại như Chúa đã yêu thương chúng ta.

Ước gì mỗi người cảm nhận được những ân huệ lớn lao mà chúng ta vẫn được nhận lãnh mỗi ngày do lòng nhân từ của Thiên Chúa, dù chúng ta chỉ là những tội nhân. Xin Chúa giúp chúng ta sống tâm tình tri ân và biết dùng hết sức mình để dấn thân phục vụ Nước Chúa cũng như hết tình để lôi kéo mọi người đến cùng Thiên Chúa, hầu tất cả đều được dự phần hạnh phúc trong vườn nho là Nước của Ngài. Amen!


SUY NIỆM:

HÃY SỐNG YÊU THƯƠNG (Lm Giuse Trần Minh Kiểm, SVD)

Trong cuộc sống, có lẽ chúng ta đã từng gặp những người không có việc làm. Có người sáng sớm đã ra khỏi nhà để tìm việc; có người đi hết nơi này đến nơi khác để nộp đơn; cũng có những người lao động tự do đứng ở một nơi quen thuộc, chờ xem hôm nay có ai đến thuê mình hay không.

Đối với người có công việc ổn định, có lẽ chúng ta khó cảm nhận hết tâm trạng ấy. Nhưng với một người đang phải nuôi gia đình, mỗi ngày không có việc là thêm một ngày lo lắng: tiền ăn, tiền nhà, tiền học cho con và biết bao nhiêu khoản phải chi tiêu.

Vì thế, có những người chỉ mong mỗi sáng có ai đó đến gọi mình đi làm. Công việc nặng nhọc một chút cũng được, miễn là có việc và có chút tiền mang về cho gia đình. Hình ảnh đó không xa lạ ở bất cứ xã hội nào, dù ở một đất nước giàu hay nghèo.

Vâng!

Thời Chúa Giêsu, mặc dù chưa có những công ty, xí nghiệp như ngày nay, nhưng cảnh những người lao động đứng ngoài chợ chờ người đến thuê lại rất quen thuộc. Ai được thuê thì vui mừng đi làm; nhưng cũng có những người chờ mãi đến trưa, đến chiều, thậm chí gần hết ngày vẫn chưa có ai thuê. Không hẳn vì họ lười biếng, nhưng đơn giản như chính họ nói trong Tin Mừng: “Vì không ai mướn chúng tôi.”

Chính từ hình ảnh rất đời thường ấy, Chúa Giêsu kể dụ ngôn những người thợ làm vườn nho mà chúng ta vừa nghe.

Vậy qua dụ ngôn hôm nay, Chúa muốn gửi đến mỗi người chúng ta bài học gì? Giờ đây, chúng ta cùng nhìn lại một vài chi tiết để hiểu dụ ngôn rõ hơn.

Điểm thứ nhất: Có một người kia có một vườn nho. Đây là ông chủ và có lẽ vườn nho khá lớn, đang vào mùa thu hoạch, nên ông cần thuê thêm nhiều người vào làm việc.

Điểm thứ hai: chúng ta chú ý đến cách tính giờ của người Do Thái thời đó. Ngày làm việc bắt đầu khoảng 6 giờ sáng và kết thúc khoảng 6 giờ chiều. Vì thế: Giờ thứ ba: khoảng 9 giờ sáng; giờ thứ sáu: khoảng 12 giờ trưa; giờ thứ chín: khoảng 3 giờ chiều; giờ thứ mười một: khoảng 5 giờ chiều. Nếu ai đọc Kinh Phụng Vụ sẽ thấy chúng ta vẫn còn những cách gọi như giờ Ba, Giờ Sáu và Giờ Chín.

Điểm thứ ba: có tất cả năm đợt thuê thợ. Nhưng chỉ có đợt đầu tiên mới có sự thỏa thuận rõ ràng về tiền công: một quan tiền cho một ngày làm việc. Đây là tiền công thông thường của một ngày lao động thời đó. Những người đến sau, ông chủ chỉ nói sẽ trả cho họ hợp lẽ công bằng. Nhưng đến lúc trả lương, chúng ta lại thấy một điều rất khác thường.

Những người làm từ sáng sớm, vất vả cả ngày dưới nắng nóng, được một quan tiền; những người vào lúc 5 giờ chiều, chỉ làm khoảng một tiếng, cũng được một quan tiền.

Nếu tính theo suy nghĩ thông thường của chúng ta thì điều đó có vẻ không hợp lý. Người làm cả ngày đương nhiên phải được nhiều hơn người chỉ làm một tiếng.

Vâng, nhìn theo cách tính toán của con người, chúng ta có thể nghĩ ông chủ này bất công với những người đã làm lụng vất vả suốt ngày. Có khi chúng ta còn nghĩ: ông chủ này sao kỳ quá! Hay ông có tính khí thất thường, thích ai thì cho người đó nhiều?

Kính thưa

Nhưng nếu đọc kỹ dụ ngôn, chúng ta sẽ thấy ông chủ không hề bất công. Ông nói: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao?”

Đúng vậy! Hai bên đã thỏa thuận một quan tiền và đến cuối ngày ông chủ trả đúng một quan tiền, không thiếu một chút nào. Như vậy, ông chủ không những công bằng mà còn nhân hậu.

Công bằng, vì đã cam kết một quan tiền thì trả đủ một quan tiền, không cắt xén. Còn nhân hậu, vì đối với những người đến sau, ông cho họ nhiều hơn những gì họ có thể đòi hỏi.

Ông không lấy bớt của người đến trước để cho người đến sau. Người đến trước vẫn nhận đủ phần của mình. Chỉ có điều ông muốn quảng đại hơn với người đến sau mà thôi. Thế nhưng, khi kể dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta điều gì?

Kính thưa

Qua dụ ngôn, chúng ta thấy đường lối của Thiên Chúa khác với những tính toán của con người. Con người thường tính toán: tôi làm nhiều thì phải được nhiều; tôi hy sinh nhiều thì phải hơn người khác; tôi theo Chúa lâu năm thì phải được ưu tiên hơn người mới theo Chúa. Nhưng Thiên Chúa không tính toán như vậy.

Chúng ta cần xác tín một điều: Thiên Chúa kêu gọi chúng ta không phải vì chúng ta xứng đáng, nhưng vì yêu thương. Những gì chúng ta có và những gì chúng ta nhận được trước hết vẫn là ân huệ Chúa ban một cách nhưng không. Chúa gọi ai, vào lúc nào, theo cách nào là quyền của Chúa. Còn phần chúng ta là vui vẻ đáp lại tiếng gọi ấy.

Mỗi người được Chúa gọi trong những hoàn cảnh khác nhau. Có người được Thiên Chúa chuẩn bị ngay từ trong lòng mẹ như Gioan Tẩy Giả; có người được gọi khi đã trưởng thành như Phêrô; cũng có người gặp Chúa sau một thời gian chống đối và bắt bớ các tín hữu như thánh Phaolô.

Người đến trước, người đến sau; điều quan trọng không phải là chúng ta đến lúc nào, nhưng là khi Chúa gọi, chúng ta có đáp lại hay không.

Một lần nữa, chúng ta thấy Chúa tuyển chọn chúng ta không phải vì chúng ta đạo đức hơn hay có khả năng hơn người khác, nhưng trước hết là vì tình thương của Thiên Chúa.

Nếu hiểu được điều đó, chúng ta sẽ bớt so sánh mình với người khác.

Bởi nhiều khi điều làm chúng ta mất bình an không phải vì Chúa cho chúng ta quá ít, mà vì chúng ta thấy người khác được nhiều hơn mình. Chúa cho tôi một đồng, tôi đang vui. Nhưng khi thấy người kia cũng được một đồng mà họ làm ít hơn tôi, tự nhiên tôi hết vui!

Như vậy, vấn đề không nằm ở một đồng tôi nhận được, nhưng nằm ở cái nhìn của tôi đối với người anh em. Đó cũng là điều ông chủ hỏi: “Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?”

Để kết thúc bài chia sẻ, con xin kể một câu chuyện nổi tiếng của văn hào Rabindranath Tagore, có tựa đề “Người ăn xin.”

Câu chuyện được kể như sau:

Một người ăn xin suốt ngày ăn xin trên con đường làng. Bỗng một hôm có một cỗ xe bằng vàng từ xa đi tới. Anh tự hỏi, ông Vua nào mà lộng lẫy như thế? Lòng hy vọng trào lên trong lòng. Và anh ta tự nghĩ rằng: từ nay đời mình sẽ hết khổ, Ngài sẽ bung những đồng tiền vàng bên đường cho mình.

Khi cỗ xe dừng lại bên anh ta. Nhà Vua bước xuống, mỉm cười và nói: “con có cái gì cho ta không?”. Bối rối và thất vọng trước câu hỏi đó: anh ta đã từ từ thò tay vào trong bị lấy một hạt lúa mì (vâng một hạt lúa mì) và dâng cho đức vua. Nhận hạt lúa mì xong ngài lên xe và tiếp tục đi.

Chiều đến, khi dốc những hạt lúa mì trong bị ra, thì thật ngỡ ngàng biết bao. Một hạt ngọc óng ánh nằm giữ những hạt lúa mì khác.

Lúc này anh ta khóc nức nở và tiếc rẻ. Tại sao mình không dâng cho đức vua tất cả những hạt lúa mì mình có?

Vâng kính thưa, có lẽ cuộc sống của chúng ta nhiều khi cũng giống như thế. Chúng ta rất hẹp hòi với Chúa và với anh chị em. Rồi nhiều khi chúng ta thấy người nọ người kia được Chúa đối xử hơn chúng ta, thay vì chúng ta bình tâm xét lại xem chúng ta đã sống với Chúa như thế nào, chúng ta lại đâm ra ghen tuông với anh chị em và cả với Chúa nữa.

Xin Chúa hãy điều chỉnh cách sống của mỗi người chúng con, để mỗi ngày sống của chúng con luôn tràn ngập niềm vui với Chúa và anh chị em. Amen.

Bài trướcLỜI SỐNG (Thứ Bảy, Tuần 24 TN)