Bài Ðọc I: Ml 4, 1-2a
“Các ngươi sẽ được Mặt Trời công chính mọc lên cho”.
Trích sách Tiên tri Malakhi.
“Ðây sẽ đến ngày bừng cháy lên như lò lửa: tất cả những kẻ kiêu căng và những người làm tội ác sẽ như rơm rạ, ngày ấy đến sẽ thiêu đốt họ, và không để sót lại cho họ cội rễ ngành chồi gì cả, Chúa các đạo binh phán như vậy. Phần các ngươi là những kẻ kính sợ thánh danh Ta, các ngươi sẽ được Mặt Trời công chính mọc lên cho, mang theo sự cứu chữa trong cánh Người”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 97, 5-6. 7-8. 9
Ðáp: Chúa ngự tới cai quản chư dân trong đường chính trực (x. c. 9).
Xướng: 1) Hãy ca mừng Chúa với đàn cầm, với cây đàn cầm, với điệu nhạc du dương, cùng với tiếng kèn râm ran, tiếng tù và rúc, hãy hoan hô trước thiên nhan Chúa là Vua. – Ðáp.
2) Biển khơi và muôn vật trong đó hãy rống tiếng lên, cả địa cầu và những dân cư ngụ ở trong cũng thế. Các sông ngòi hãy vỗ tay reo, đồng thời các núi non hãy hân hoan nhảy nhót. – Ðáp.
3) Trước thiên nhan Chúa vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người cai quản địa cầu với đức công minh, và cai quản chư dân trong đường chính trực. – Ðáp.
Bài Ðọc II: 2 Tx 3, 7-12
“Nếu ai không muốn làm việc thì đừng có ăn”.
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.
Anh em thân mến, chính anh em biết phải noi gương chúng tôi thế nào, bởi vì chúng tôi đã không lười biếng lúc ở giữa anh em, cũng không ăn bám của ai, nhưng chúng tôi làm lụng khó nhọc vất vả đêm ngày, để không trở nên gánh nặng cho người nào trong anh em. Không phải chúng tôi không có quyền, nhưng là để nêu gương cho anh em, để anh em bắt chước chúng tôi. Bởi vì khi chúng tôi còn ở với anh em, chúng tôi đã truyền dạy anh em rằng: “Nếu ai không muốn làm việc, thì đừng có ăn”. Vì chúng tôi nghe tin có một số người trong anh em sống nhàn cư, chẳng làm việc gì hết, nhưng lại dây mình vào mọi việc. Ðối với những hạng người đó, chúng tôi mời gọi và khuyến cáo họ trong Chúa Giêsu Kitô, để họ yên hàn làm việc và dùng lương thực mình tìm ra.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Mt 24, 42a và 44
Alleluia, alleluia! – Các con hãy tỉnh thức và sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 21, 5-19
“Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có mấy người trầm trồ về đền thờ được trang hoàng bằng đá tốt và những lễ vật quý, nên Chúa Giêsu phán rằng: “Những gì các con nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào mà chẳng bị tàn phá”. Bấy giờ các ông hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, bao giờ những sự ấy sẽ xảy ra, và cứ dấu nào mà biết những sự đó sắp xảy đến?” Người phán: “Các con hãy ý tứ kẻo bị người ta lừa dối. Vì chưng, sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến mà tự xưng rằng: ‘Chính ta đây và thời giờ đã gần đến’. Các con chớ đi theo chúng. Khi các con nghe nói có chiến tranh loạn lạc, các con đừng sợ, vì những sự ấy phải đến trước đã, nhưng chưa phải là hết đời ngay đâu”.
Bấy giờ Người phán cùng các ông ấy rằng: “Dân này sẽ nổi dậy chống lại dân kia, và nước này sẽ chống với nước nọ. Sẽ có những cuộc động đất lớn mọi nơi; sẽ có ôn dịch đói khát, những hiện tượng kinh khủng từ trên trời và những điềm lạ cả thể. Nhưng trước những điều đó, người ta sẽ tra tay bắt bớ, ức hiếp và nộp các con đến các hội đường và ngục tù, điệu các con đến trước mặt các vua chúa quan quyền vì danh Thầy; các con sẽ có dịp làm chứng. Vậy các con hãy ghi nhớ điều này trong lòng, là chớ lo trước các con sẽ phải thưa lại thể nào. Vì chính Thầy sẽ ban cho các con miệng lưỡi và sự khôn ngoan, mọi kẻ thù nghịch các con không thể chống lại và bắt bẻ các con. Cha mẹ, anh em, bà con, bạn hữu sẽ nộp các con, và có kẻ trong các con sẽ bị giết chết. Các con sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu các con cũng sẽ chẳng hư mất. Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con”.
Ðó là lời Chúa.
Bài giảng chủ đề:
HÃY CỨU LẤY LINH HỒN ANH EM!
Lm. Giuse Phạm Duy Thạch, SVD
Trong bối cảnh có một vài môn đệ ngưỡng mộ, trầm trồ về vẻ bề ngoài nguy nga, tráng lệ của đền thờ Jêrusalem, với những viên đá cẩm thạch bóng loáng và những lễ vật tưởng niệm dát vàng óng ánh, Đức Giêsu tiền báo về số phận bi thảm của đền thờ. Thực ra, khi bước đến gần thành Jêrusalem, cảm giác đầu tiên mà Người có về đền thờ là cảm giác đau xót. Người Thương Khóc thành Jêrusalem: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp lũy chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,42-44). Hành động đầu tiên khi Người bước vào trong đền thờ là “thanh tẩy đền thờ” vì nó đã trở thành ô uế, thành sào huyệt của những người trộm cướp (Lc 19,45-46). Như vậy, cảm thức của Đức Giêsu về đền thờ hoàn toàn trái ngược nhau. Trong khi Đức Giêsu nhìn thấy bên trong đền thờ đầy “sào huyệt của những tên trộm cướp”, các môn đệ chỉ trầm trồ, ngưỡng mộ về những vẻ hào nhoáng bên ngoài. Đức Giêsu đã không ngần ngại mặc khải cho các ông một biến cố bi thảm “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào”. Sự thanh tẩy đền thờ không tránh cho nó bị phá hủy, bởi một thói quen thờ phượng bị tục hóa, nặng hình thức, “thừa lễ tế”, mà thiếu hồn của “lòng nhân từ”. Chưa hết, người ta có thể tận dụng khuôn viên đền thờ để mua bán trục lợi cho riêng mình. Các môn đệ chắc chắn đã chứng kiến sự kiện đền thờ bị sụp đổ, khi quân đội Rôma thiêu hủy đền thờ vào năm 70 CE. Nhân dịp các môn đệ đặt câu hỏi về “những dấu hiệu” và “thời điểm” cho biến cố hủy diệt thành Jêrusalem, Đức Giêsu tiền báo rất nhiều dấu hiệu nhằm nối kết đến không những biến cố hủy diệt thành Jêrusalem mà còn là biến cố ngày cánh chung[1]. Đó là sự xuất hiện của những “ngôn sứ giả”, những người tự xưng mình là chính Chúa: “ego eimi” (Tôi là). Đó là tất cả những tai họa khủng khiếp từ chiến tranh giữa các nước, loạn lạc, thảm họa thiên nhiên (động đất, đói kém, ôn dịch) đến những điềm lạ khủng khiếp trên trời. Từ nền tảng của cuộc Thương Khó sắp xảy ra cho chính Người, Đức Giêsu mặc khải những cuộc bách hại khốc liệt trong tương lai từ tất cả mọi người. Các tín hữu có thể đối diện với những hình thức bách hại như: “Bị tra tay bắt, ngược đãi, trao nộp cho các hội đường và tống ngục, điệu ra trước mặt vua chúa và quan quyền”. Đây chính là dịp thuận tiện để các tín hữu làm chứng cho Đức Giêsu. Cuộc bách hại khốc liệt và gây đau đớn nhất là cuộc bách hại của chính “cha mẹ, anh chị em, những người bà con ruột thịt, và các bạn hữu”. Những người thân ruột thịt có thể trao nộp các tín hữu, và giết chết một số người. Mức tuyệt đối của sự loại trừ là họ sẽ trở thành “những người bị tất cả mọi người ghét bỏ”. Trong tình huống khó khăn đau khổ muôn trùng, các tín hữu được chỉ dẫn, động viên, khích lệ bằng những mệnh lệnh cụ thể: “Đừng để bị dẫn đi lạc”; “Đừng đi theo” những ngôn sứ giả; “Đừng hoảng sợ”; “Hãy làm chứng”; “Cứ yên tâm, đừng lo chuẩn bị phải phản kháng ra sao” vì Chúa sẽ ban cho “cái miệng và sự khôn ngoan”, tức là tài ăn nói và sự khôn ngoan của Thánh Linh; “Một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất”; Cuối cùng, “Hãy giành lấy sự sống của mình bằng sự kiên trì” trong việc tin yêu Chúa. Sự kiên trì bao gồm cả sự tín thác, hy vọng vào Chúa, sự chịu đựng đau khổ liên lỉ mà không sa ngã và sinh hoa kết quả từ sự tha thứ, khiêm nhu, và tình thương yêu đối với kẻ thù. Thiên Chúa vẫn đồng hành, hỗ trợ, nhưng các tín hữu cũng được mời gọi chủ động, cộng tác với Chúa để giành lấy linh hồn cho mình. Những lời tiền báo của Đức Giêsu, đều được hiện thực hóa trong cuộc Thương Khó của Người và trong đời sống Hội Thánh sơ khai, được ghi lại trong sách Công Vụ.
Các môn đệ luôn bị bách hại từ phía những người đồng hương và vua chúa quan quyền. Dầu vậy, họ không ngừng làm chứng về Đức Giêsu là Đấng Kitô, về sự sống lại của Người và họ kiên trì cho đến chết, vì sứ mạng loan báo Tin Vui mà Chúa đã truyền cho họ. Các tín hữu qua mọi thời đại vẫn đã và đang trải qua chiến tranh, loạn lạc, thiên tai, bách hại khốc liệt. Họ cũng được mời gọi luôn tín thác vào Chúa, trung thành với đức tin, trong mọi hoàn cảnh và giành lấy sự sống vĩnh cửu của mình.
Chú thích:
[1] “Does Jesus speak of the destruction of the temple or of the End? In fact, Jesus speaks of both, but not in a way that marks the fall of the temple as the onset of the consummation of God’s purpose in history. Jesus does interpret the fall of Jerusalem as an eschatological event, but not in immediate relation to the coming of the eschaton” [J.B. GREEN, The Gospel of Luke, 731].
CHỜ CÓ MỘT NGÀY …
Lm. Phêrô Nguyễn Đức Vinh, SVD
… được trang hoàng bằng những viên đá đẹp
Đá đẹp thì được gom nhặt và đưa về ngay. Được dựng trước cổng nhà hay dọc bờ tường, trong vườn hay trong công viên. Và để trang hoàng Đền Thờ, như người Do Thái đã làm. Được xây dựng đầy nghệ thuật, nguy nga lộng lẫy nên công trình này được tính vào một trong bảy kỳ công thế giới thời cổ đại, đáng được chiêm ngưỡng. Chính vì thế người Do Thái nói: “Ai chưa nhìn thấy Giêrusalem trong vinh quang của nó, người đó chưa nhìn thấy niềm vui trong đời mình. Ai chưa nhìn thấy Thánh Địa trong những thành tựu của nó, người đó chưa hề thấy một thành phố kiêu sa duyên dáng.”[1]
Đối lại lời ngưỡng mộ nồng nàn của dân chúng là một lời tiên báo tai họa của Đức Giêsu: Đền Thờ sẽ “bị tàn phá hết” (Lc 19,43). Niềm tự hào và niềm vui của Israel sẽ kết thúc như vậy. Một lời thật khó tin, nghe như một tiên báo ngày tận thế trong tai những người Do Thái. Nhất là vì Đền Thờ là trung tâm tôn giáo, là Thánh Địa, nơi bảo đảm sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa họ. Nhưng Thiên Chúa không nhìn vào những viên đá đẹp và những của lễ dâng cúng quý giá. Trái lại, Chúa tìm những con người mà cuộc sống của họ tỏ hiện rõ sự hiện diện của Người trong đó. Khám phá ra rằng chính mình là Đền Thờ của Thiên Chúa, làm nên ơn gọi to lớn, và đồng thời là nhiệm vụ hấp dẫn nhất của đời môn đệ Đức Kitô (x. 1 Cr 3,16tt).
… coi chừng kẻo bị lừa gạt
Đối với thánh Luca thì việc phá hủy Đền Thờ là một biến cố đã xảy ra rồi; là quá khứ khi Ngài viết Tin Mừng. Vậy nên đáng quan tâm hơn là bước tiếp theo, sau khi Đền Thờ đã bị phá hủy và ngày tận thế chưa đến. Đó là các câu hỏi liên quan đến thời điểm “các sự việc đó sẽ xảy ra” cũng như các “điềm báo trước”. Các môn đệ và chúng ta muốn biết câu trả lời, bởi vì phải sống trong tình trạng không chắc chắn gây lo âu sợ hãi, lấy đi hết mọi hứng thú và gây tê liệt dần.
Đến đâu hay đó là một triết lý sống đến từ sự thích nghi vào một thế giới bất định như vậy. Trong đó, con người phải học cam chịu và chấp nhận vai thụ động. Khi không làm chủ và tự quyết định được cho đời mình, không được tôn trọng và lắng nghe, người ta cũng khó có được những suy nghĩ tích cực và sáng tạo. Một tầm nhìn thật dài khó có thể phát triển trong bầu khí như vậy – khi tôi không thể định hướng tương lai dài lâu.
Nhưng ai chờ đợi một kết quả cụ thể ở đây thì phải thất vọng. Câu hỏi về thời điểm và các điềm báo không được trả lời. Chỉ có lời hướng dẫn cho những ai chờ đợi ngày trở lại của Đức Giêsu Kitô. Cuộc gặp gỡ với “Người trở lại” là mục đích được hướng đến của cuộc đời người theo Chúa. Chúa đến mở cửa dẫn vào tương lai. Ngày Quang Lâm của Chúa là hình ảnh cho sự thỏa đáp tất cả những gì con tim chúng ta chờ đợi khát khao, ước mơ và ham muốn cho mình, cho người thân và cho lịch sử nhân loại – cả những “niềm nhớ không tên” của đời tôi.
Cần đặt tên cho chúng, nghĩa là lôi chúng vào ánh sáng, vào ý thức, để chúng không còn như những kẻ ẩn danh vô hình đứng sau xúi giục, thúc đẩy và lừa gạt. Vậy cần một lần tự hỏi mình: Tôi (còn) ham muốn, khát khao, mơ ước hay chờ đợi gì nữa không? Hay tôi hài lòng với hiện trạng của cá nhân và của thế giới chung quanh? Nếu “Đền thờ đời tôi” bị phá hủy thì tôi còn lại gì?
Thực tế là ai nóng lòng ngóng trông sự thỏa đáp ngay liền những khát khao, muốn thay đổi nhanh hiện trạng của mình, thì cũng dễ trở thành nạn nhân của những lường gạt. Đó là những hứa hẹn mang lại kết quả vượt kỷ lục bằng con đường ngắn và đơn giản nhất. Hứa cho thành tích lớn mà không cần học hành và tập luyện kham khổ, rằng chỉ cần đầu tư ít mà lãi thật nhiều thật nhanh. Mọi cám dỗ và tệ nạn như tham nhũng và hối lộ, cả các chủ nghĩa không thật, xây trên những ước mơ đi tắt, đón đường, vượt giai đoạn để đến đích lớn. Chúng được nuôi từ sự “nóng lòng” này. Hậu quả là bất công, gian dối, bạo lực, khước từ nhân quyền và bình đẳng, coi nhẹ nhân phẩm và sự tụt hậu của đất nước và con người.
Một sự lừa gạt khác đến từ quan niệm cho rằng hiện thực sẽ mãi mãi như vậy, đời đời không thay đổi gì cả. Thật vậy, đối diện với những cơ chế đè nặng trên con người từ nhiều thập kỷ, người ta đã thích nghi và buông bỏ giấc mơ sẽ có một đổi thay tích cực tận căn. Những thông tin hằng ngày về những tiêu cực không giúp nhìn lạc quan hơn. Cái ác, sự dữ trong mọi hình hài của chúng tỏ vẻ như mạnh hơn và không có gì gây ảnh hưởng trên chúng được. Những hứa hẹn sửa mình không được thực hiện làm mất hết niềm tin. Và đây chính là điều đáng sợ nhất. Vì không còn tin tưởng nhau thì mọi sự có thể xảy ra. Không ngạc nhiên, rằng con người sống trong một thế giới như vậy nhìn quanh chỉ thấy tận thế. Hỏi ai sẽ làm chứng cho sứ điệp cứu độ?
Cơ hội làm chứng
Đức Giêsu nhìn thật xa vào trong tương lai. Thế giới sẽ đổi thay, những tàn phá sẽ xảy đến, bách hại không tránh khỏi. Trong mọi thời, ai sống trung thành với niềm tin vào Đức Kitô – nghĩa là trung thành với tiếng lương tâm, với bản thân – sẽ luôn là đối tượng của loại trừ, thù hận, bắt bớ và giết chóc. Thế giới luôn khó chịu với những người muốn sống “là chính mình”, không bằng lòng với việc thay chỗ của Thiên Chúa bằng một thần thánh hay quyền lực khác. Đi con đường dẫn đến sự thật và sự sống có tên là Giêsu Kitô một cách triệt để, thì người môn đệ luôn phải tính với sự hiềm khích và thù hận, ngay từ trong gia đình. Bị chống đối và phản bội bởi những người thân cận sẽ không là điều gây ngạc nhiên.
Sức mạnh chịu đựng và sự trung thành đến từ xác tín rằng: Chính tôi là Đền Thờ Thiên Chúa. Ý thức rằng Chúa ở giữa đời mình, nên nhìn thấy cơ hội “làm chứng cho Thầy” trong những biến động và thách đố đến từ bên ngoài. Biết rằng sự thật là con đường ngắn nhất để tới đích đòi cái giá của nó. Sự sống thật đến từ sự kiên trì (Lc 21,19) từ ngày qua ngày, chứ không qua một lối đi tắt nào khác. Muốn vững bền để vươn cao thì tôi cần một nền tảng sâu chắc, được tích góp qua sự trung thành mỗi ngày trong một đoạn đường dài.
Khi thực tế mang màu u ám của tuyệt vọng, chúng ta cần học đổi cách nhìn như ngôn sứ Malakhi: nhìn từ Ngày Quang Lâm. Từ viễn ảnh đó đời sống nhận một ý nghĩa khác, hy vọng có thể vươn lên khi biết rằng vào ngày đó “Mặt trời công chính sẽ mọc lên”, và mọi vết thương đời sẽ được chữa lành (Ml 3, 20).
[1] Alois Stöger, Das Evangelium nach Lukas, 2. Teil. (Geistliche Schriftlesung), Düsseldorf 1966, 190.
CHÚA GIÊSU LÀ BIỂU TƯỢNG CỦA CUỘC HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN
Lm. Gioakim Đỗ Sỹ Hùng,SVD
Những ngày cuối cùng của năm phụng vụ, chúng ta được nghe những bài Kinh Thánh nói về mầu nhiệm cánh chung. Với lối văn khải huyền khó hiểu về những điềm báo và những lời tiên tri về sự sụp đổ của đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu đã đưa ra một viễn tượng về ngày cuối cùng của thế giới, những khó khăn thử thách của những người tin, và lời hứa về ơn cứu rỗi cho họ.
Xét theo bối cảnh, đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe có những ý chính sau:
Lời tiên báo của Chúa Giêsu về đền thờ Giêrusalem
Lời khen của một số người về Đền Thờ Giêrusalem làm ta có cảm tưởng người ta khen ngợi với vẻ tự hào về sự nguy nga, tráng lệ của đền thờ, và họ nghĩ đền thờ Giêrusalem kiên cố, vững bền mãi mãi. Nhưng Chúa Giêsu đã lên tiếng cảnh báo:“Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó, sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào” (Lc 21,6).
Quả thật, 36 năm sau lời tiên báo của Chúa Giêsu, Đền Thờ Giêrusalem bị quân đội Rôma tàn phá hoàn toàn. Theo sử gia Josephus Flavius, năm 70 SCN, tướng Titô đã lãnh đạo quân đội Rôma, bao vây Giêrusalem để triệt hạ thành. Đây là thời kỳ cùng cực nhất của người Do Thái, khiến 1.100.000 chết và 97.000 người bị bắt làm phu tù. Quốc gia Do Thái bị quét sạch, thành và Đền Thờ Giêrusalem bị phá hủy (William Barclay, TM theo thánh Luca, tr 245).
Những điềm báo trước về ngày tận thế
Chiến tranh, loạn lạc, thiên tai, bệnh tật đói nghèo là những vấn đề con người phải luôn đương đầu trong mọi thời đại và trên qui mô toàn cầu. Với lối văn khải huyền, Chúa Giêsu không nói rõ thời gian các sự việc xảy đến, nhưng Người ám chỉ những sự kiện sẽ xảy ra trong mọi thời đại, cũng như qua các biến cố thường ngày để nhắc nhở mỗi người sẵn sàng như thể Chúa đến bất cứ lúc nào trong đời ta. Vì thế, phải tin tưởng, cậy trông vào quyền năng của Thiên Chúa và chu toàn bổn phận mỗi ngày.
Sự bắt bớ, chống đối của các thế lực thù địch (Lc 21,8-12) và kẻ ganh ghét những người tin vào danh Chúa Giêsu cũng là thực tại mà tín hữu phải chịu trong mọi thời đại. Tuy nhiên, người tín hữu phải biết chấp nhận thử thách, đau khổ mới mong đạt tới hạnh phúc Nước Trời (x. Câu 19).
Ý tưởng về “Ngày của Chúa”
“Ngày của Chúa là một trong những nền tảng của tôn giáo trong thời Chúa Giêsu. Ai nấy đều biết những hình ảnh khủng khiếp này như Tin Mừng đã nhắc đến trong các câu 9,11,25,26” (William Barclay, TM theo thánh Luca, tr 245).
Người Do Thái chia thời gian làm hai thời kỳ, thời kỳ hiện tại là thời kỳ xấu xa tội lỗi sẽ bị hủy diệt hoàn toàn. Rồi sẽ có một thời trong tương lai, là thời hoàng kim rực rỡ của Chúa. Trong thời kỳ này, dân Do Thái sẽ là dân tộc đứng đầu thế giới. Giữa hai thời kỳ đó sẽ là “Ngày của Chúa”,ngày mà thế giới bị đảo lộn tan tành, ngày đau khổ của mọi tạo vật để sinh ra thời đại mới. Chính vì thế, từ ngữ “Trời mới đất mới” được nhắc đến trong Kinh Thánh (x. Is 13,6-9; 65,17-25; Ge 2,1-2; Am 5,18-20; 2Pr 3; Kh 21). Theo cái nhìn của các ngôn sứ, “Ngày của Chúa” chính là ngày Thiên Chúa ra tay uy quyền để giải thoát dân Do Thái khỏi ách nô lệ, và đưa họ đến một thời quyền uy, huy hoàng.
Với những điểm trên, Chúa Giêsu muốn truyền đạt không những cho các môn đệ, cho thính giả thời của Người và cho cả chúng ta những sứ điệp quan trọng:
- Thế giới vật chất chúng ta đang sống là một thế giới tạm bợ, mau qua, không có chi vững bền vĩnh cửu. Biến cố thành Giêrusalem bị tàn phá nhắc nhở mỗi người rằng, vạn vật rồi sẽ đổi thay, thế giới vật chất phù du sẽ lụi tàn, chỉ có Thiên Chúa và những gì thuộc về Thiên Chúa mới vĩnh cửu.
- Con người ngày xưa đã biết quan sát và tìm hiểu về điềm báo của thiên nhiên để phòng tránh thiên tai, hoạn nạn. Những biến cố xảy đến trong cuộc sống thường ngày của những người chung quanh khi họ từ giã cõi đời như bệnh tật, tai nạn, thiên tai, chiến tranh, khủng bố là một lời nhắc nhở mỗi người chuẩn bị đến lượt Chúa gọi mình mà hãy lo sống xứng đáng,để nhận được sự sống vĩnh cửu mai sau.
- Sống đức tin: kiên trì làm chứng cho Tin Mừng bằng đời sống đức tin: (cc. 13-19). Trong khi chờ đợi “Ngày của Chúa” (Ngày Chúa đến lần thứ hai), các tín hữu phải trải qua nhiều gian nan thử thách, bách hại. Chúa Giêsu mời gọi mọi người đừng sợ, hãy kiên trì giữ vững đức tin. Ai kiên trì làm chứng cho Tin Mừng trong những cơn nguy khốn, bị bách hại vì danh Chúa Giêsu, sẽ nhận được phần thưởng là ơn cứu rỗi đời đời (cc. 19 và 28). Đối với Chúa Giêsu, muốn đạt tới vinh quang phải đi qua thập giá. Những thử thách, bách hại, chống đối và tù đày không phải là điều đáng sợ, phải tránh nhưng là một cơ may để làm chứng cho Tin Mừng bằng đức tin trung kiên của mình.
- Thực thi Lời Chúa và chu toàn bổn phận mỗi ngày trong tin yêu. Trong khi chờ đợi “Ngày của Chúa”, mỗi tín hữu phải sống tinh thần phó thác, bình an và sẵn sàng đón nhận mọi biến cố như dấu chỉ Chúa gởi đến trong đời ta.
Có nhiều người trong giáo đoàn Thêxalônica hoang mang lo lắng vì nghe tin đồn rằng ngày Chúa đến đã gần kề nên họ bỏ bê công việc, sống vô kỷ luật,nên trong bài đọc 2 (2Tx 3,7-12), thánh Phaolô đã khuyên nhủ mọi người đừng chờ đợi “Ngày Chúa đến” theo kiểu hoang mang rồi buông xuôi, vô trách nhiệm. Nhưng phải biết sống niềm tin của mình với tinh thần kỷ luật, lo chu toàn bổn phận từng giây từng phút trong tình thương yêu giúp đỡ nhau, kiên trì làm việc cho đến giây phút Chúa đến. Chính thánh nhân đã trở nên mẫu gương sống chứng nhân Tin Mừng ở giữa họ.
Liệu tôi có sống đến “ngày tận thế” để xem sự việc xảy ra thế nào không hay là đột nhiên Chúa đến gọi tôi ngày hôm nay, ngày mai hay ngày kia? Như vậy, bao giờ Chúa gọi tôi? Hay ngày tận thế đến với tôi không quan trọng nữa. Điều quan trọng và cần thiết là mỗi người đã sống như thế nào, đã làm gì để chuẩn bị đón Chúa trong từng giây phút cuộc đời.
Mọi sự trong thế gian đều có ngày tận cùng của nó, và thế gian này sẽ qua đi. Hình ảnh Giêrusalem bị tàn phá trong bài Tin Mừng hôm nay là hình ảnh tiên báo cho thế giới này. Số phận của Giêrusalem cũng là số phận của những ai không biết thực thi lời Thiên Chúa. Mỗi giây phút chúng ta sống là mỗi lúc ta tiến gần hơn ngày Chúa đến trong đời ta. Vậy mỗi người phải có thái độ nào để đón chờ ngày Chúa đến? Chớ gì mỗi người chúng ta biết mau mắn thực thi Lời Chúa: làm hòa với Chúa và anh chị em; mở lòng ra chia sẻ cho người khác một chút vật chất và tình thương; an ủi những ai sầu khổ hoạn nạn. Mỗi gia đình tập sống hy sinh, cha mẹ, vợ chồng, con cái biết lắng nghe nhau, quan tâm nâng đỡ nhau. Trong thời gian sống chờ đợi Chúa, hãy cố gắng chu toàn bổn phận hằng ngày. Bổn phận của ta đối với Chúa, đối với tổ tiên ông bà, cha mẹ, đối với quê hương, đất nước. Nhất là biết tin tưởng cậy trông vào lòng thương xót của Thiên Chúa, để mọi nơi mọi lúc, chúng ta sẵn sàng đáp tiếng xin vâng theo ý Chúa.











