Một Tự Nhiên Biết Nói: Hans Jonas Và Trách Nhiệm Trước Ngôi Nhà Chung

0
4

Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Du Trí, SVD

Có một thực tế là không cần học một lý thuyết đạo đức nào, người ta thường vẫn biết phải làm gì khi thấy một đứa trẻ sơ sinh nằm trơ trọi một mình. Hơi thở yếu ớt của em, tự nó đã là một lời đòi hỏi. Người đang chứng kiến đó, dù là cha mẹ hay khách qua đường, dù người học cao hay nông dân chân chất, đều hiểu ngay rằng không thể cứ thế bỏ đi mà không làm gì đó trước sinh linh mong manh. Hans Jonas, triết gia Do Thái sinh tại Đức năm 1903, đã tìm thấy trong khoảnh khắc đơn sơ ấy của đứa trẻ một điểm tựa cho nền đạo đức trách nhiệm của mình.

Nhưng đó là đối với một đứa trẻ, một con người cao quý. Còn với môi trường, với cánh rừng, với mảnh đất, với con kênh, với dòng sông, với biển cả đang tổn thương thì sao? Dường như trước một dòng sông, một cánh rừng hay mảnh đất mà những thế hệ sau sẽ sinh sống, sự thôi thúc “làm điều gì đó” không còn rõ ràng. Chúng ta nghe nói nước mặn ngày càng lấn sâu vào ruộng lúa miền Tây, mùa hè nóng hơn, mùa mưa dữ dội hơn, cá ngoài biển mang nhựa trong bụng. Chúng ta lo lắng, tiếc nuối, trầm ngâm đôi chút, nhưng rồi lại tiếp tục sống như trước. Như vậy có phải vì chúng ta thiếu lòng tốt, thiếu thiện chí? Chưa hẳn! Khoảng cách giữa điều được biết và điều được làm không nhất thiết bắt nguồn từ sự thiếu lòng tốt. Có lẽ, nguyên nhân nằm sâu hơn, đó là nhiều người đã quen nhìn tự nhiên như một nhà kho rộng lớn, vô tri, chỉ có giá trị khi phục vụ con người.

Hẳn nhiên một nhà kho thì không biết kêu khi bị tổn thương. Chúng ta có thể sử dụng nó dè sẻn vì khôn ngoan, vì nguồn lợi cho mình, nhưng khó có ai cảm thấy mình có bổn phận gì đối với chính nó.

Thông điệp Laudato Si’, được Đức Thánh Cha Phanxicô công bố năm 2015, hàm chứa chủ đích mời gọi chúng ta vượt qua cách nhìn ấy. Trước đó, Jonas (qua đời năm 1993) đã đặt ra những câu hỏi có tính cách gần gũi bằng con đường triết học. Nếu dùng lăng kính của hai tác giả chúng ta sẽ nhận ra rằng trách nhiệm trước ngôi nhà chung hóa ra cũng không hề xa lạ với bổn phận của người đứng bên hài nhi bé nhỏ trơ trọi trong chiếc nôi kia. Cả hai đều đã bắt đầu khi một sự sống mong manh được đặt trong tầm tay của người có khả năng bảo vệ nó. Chúng ta có thể bảo vệ đứa trẻ cũng như chúng ta có thể bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta.

Sự Sống Không Câm Lặng

Thật ra Jonas không bắt đầu con đường tư tưởng từ môi trường. Ông bắt đầu bằng một câu hỏi căn bản hơn: sự sống là gì?

Trước chiến tranh, ông theo học Heidegger và nghiên cứu thuyết Ngộ giáo. Năm năm phục vụ trong quân đội Đồng minh, những ngày sống sát bên bờ vực cái chết, đã khiến ông chuyển sự chú ý sang sinh học. Điều khiến ông trăn trở là triết học hiện đại dường như đã quên mất thân thể sống động, rằng thân thể cần ăn, cần thở, biết đau đớn và có thể chết đi.

Thật vậy, kể từ Descartes, một khuynh hướng có ảnh hưởng lớn trong tư tưởng phương Tây đã phân chia thế giới thành hai phía: một bên là tâm trí biết suy nghĩ, bên kia là vật chất chiếm chỗ và chuyển động. Trong The Phenomenon of Life (1966), Jonas nhận định rằng, dưới cách nhìn ấy, cái chết trở thành điều tự nhiên nhất, còn sự sống lại là một ngoại lệ khó hiểu cần được giải thích (tr. 9). Và ông không ngại gọi đó là một “bản thể học của sự chết” (tr. 11). Vậy thì cách nhìn tự nhiên như nhà kho chứa đồ để chúng ta thỏa ý đào bới có thể được xem là một hệ quả của lối tư duy phân đôi ấy.

Jonas đề nghị chúng ta nhìn lại một sinh vật thật đơn sơ, chẳng hạn một tế bào. Một tế bào không ngừng trao đổi chất với môi trường: những phân tử làm nên nó hôm nay không hoàn toàn là những phân tử của hôm qua, nhưng nó vẫn duy trì được sự sống của mình. Một hòn đá tồn tại nhờ khối vật chất của nó; một sinh vật thì không chỉ như thế. Sinh vật giữ được mình nhờ hoạt động, và khi hoạt động sống chấm dứt, nó sẽ chết.

Ngay từ cấp độ đơn sơ nhất, sự sống đã mang trong nó một thế chênh vênh: nó có thể đánh mất chính mình và phải không ngừng chống lại khả năng ấy. Khi nói sinh vật “lo” cho sự tồn tại của nó, Jonas không gán cho tế bào một tâm lý giống con người. Ông chỉ muốn diễn tả rằng sự sống không thờ ơ với việc tiếp tục sống hay không còn sống. Sự sống không thờ ơ với chính nó. Ông nhìn thấy trong những vận động sơ khai của chất hữu cơ một nguyên lý tự do lần đầu lóe sáng giữa sự tất yếu rộng lớn của vũ trụ vật lý (tr. 3). Nhưng, như ông viết, đặc ân tự do ấy kéo theo gánh nặng của nhu cầu và một hiện hữu bấp bênh (tr. 4). Sinh vật không bị gắn chặt vào một khối vật chất cố định, nhưng lại cần vật chất từng giây để tiếp tục tồn tại.

Từ đó, ông đưa ra luận điểm triết học rằng trong tự nhiên có những mục đích thật, chứ không phải mọi mục đích đều do con người gán vào. Một rễ cây vươn về phía nguồn nước, một con chim mẹ ấp trứng, không cần hiểu khái niệm “mục đích” mới có thể hướng hoạt động của mình đến sự sống. Theo cách diễn đạt của ông, ở đâu có mục đích, ở đó hiện hữu đang nói “có” với chính mình, đang khẳng định sự sống thay vì sự không còn (x. The Imperative of Responsibility, chương 3 và 4). Sống thì “có” hơn là “không”.

Người đã quen với tư tưởng của thánh Tôma Aquinô có thể nhận ra một âm vang gần gũi trong luận điểm của Jonas. Thánh Tôma, nhắc lại lời Aristote, viết: “bonum est quod omnia appetunt”- điều thiện là điều mọi hữu thể hướng tới (Summa theologiae I, q. 5, a. 1). Jonas không phải người theo Tôma, và hai hệ thống tư tưởng không hoàn toàn trùng khớp. Nhưng ông giúp khôi phục một cách nhìn vốn gần gũi với truyền thống Kitô giáo, đó là thế giới sống không chỉ gồm những vật có ích cho con người. Trong đó có những hữu thể đang duy trì sự sống của chúng, và sự sống ấy đáng được tôn trọng.

Tự nhiên, theo nghĩa đó, không hoàn toàn câm lặng. Chỉ có điều, tiếng nói của nó không giống tiếng nói con người.

Quyền Lực Và Trách Nhiệm

Năm 1979, Jonas xuất bản tác phẩm về nguyên tắc trách nhiệm; bản tiếng Anh ra mắt năm 1984 với nhan đề The Imperative of Responsibility. Luận điểm của ông giản dị, nhưng hệ quả lại sâu rộng: khi quyền lực con người thay đổi, phạm vi trách nhiệm cũng phải thay đổi.

Theo Jonas, phần lớn các khuôn khổ luân lý truyền thống được hình thành trong một thế giới mà hành động thường tác động đến những người ở tương đối gần, trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Điều này không có nghĩa các truyền thống ấy hoàn toàn không quan tâm đến hậu thế. Điều ông muốn nhấn mạnh là chúng chưa phải đối diện với khả năng con người làm biến đổi điều kiện sống của cả hành tinh.

Kỹ thuật hiện đại đã thay đổi tình thế ấy. Những hành vi rất bình thường như lái xe, bật máy lạnh, vứt một chiếc túi nhựa,… khi tích lũy trong đời sống của hàng tỷ người và trong những hệ thống sản xuất, tiêu dùng khổng lồ, có thể để lại hậu quả rất lâu dài. Một người không có ý làm hại ai vẫn có thể góp phần vào những tổn hại mà người chưa sinh ra sẽ phải gánh chịu. “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” là thế.

Vì thế, Jonas đề nghị một mệnh lệnh đạo đức cho thời đại kỹ thuật, có nội dung như sau: hãy hành động sao cho hậu quả của hành động tương hợp với sự tồn tại lâu dài của một đời sống con người đích thực (tr. 11).

Hai chữ “đích thực” cần được hiểu cho tới tầm mức của nó. Jonas không chỉ lo về khả năng nhân loại bị xóa sổ, mà còn lo về một tương lai ít ồn ào hơn, nơi đó con người vẫn tồn tại, nhưng những điều kiện để sống tự do, nhận biết điều thiện và chịu trách nhiệm đã bị tổn hại cách nghiêm trọng.

Làm Sao Nhận Ra Điều Đang Bị Đe Dọa Khi Nó Chưa Mất Đi?

Jonas trả lời bằng một đề nghị thường được gọi là “heuristics of fear”, tức một phương pháp nhận biết điều cần bảo vệ thông qua việc hình dung những nguy cơ nghiêm trọng. Có thể gọi đó là phương pháp nhận thức nhờ nỗi sợ, thay vì “khoa học về nỗi sợ”. Con người thường biết điều mình không muốn sớm hơn điều mình muốn (tr. 27), chẳng hạn sức khỏe thường chỉ được quý trọng đúng mức khi bắt đầu có vấn đề.

Bởi vậy, khi điều được đem ra đánh cược là tương lai của toàn thể nhân loại, lời dự báo bất lợi phải được cân nhắc trước lời hứa hẹn tốt đẹp (tr. 31). Ta không được đem sự tồn tại hay bản tính của con người làm vật đặt cược (tr. 37).

Jonas còn nhắc rằng lời tiên báo tai họa được nói ra chính là để tai họa đừng đến. Sẽ bất công nếu người cảnh báo bị chế giễu chỉ vì, cuối cùng, điều tồi tệ đã không xảy ra (tr. 120). Người đọc sách ngôn sứ Giôna có thể nhận ra nét gần gũi ấy, bởi vì lời cảnh báo của Giôna không chỉ loan báo một kết cục, mà còn mở ra cơ hội hoán cải.

Nhưng một đạo đức chỉ dựa vào dự báo như thế dường như vẫn chưa đủ. Vì sao người đang sống phải lo cho những người chưa có mặt, là những người không thể đòi quyền lợi, không thể bỏ phiếu và cũng chẳng thể đáp lại?

Ở đây, Jonas trở về với đứa bé trong chiếc nôi kia. Đứa trẻ sơ sinh, chỉ bằng hơi thở của nó, đã đặt thế giới chung quanh trước một đòi hỏi không thể chối từ: hãy chăm sóc nó. “Hãy nhìn, và bạn sẽ biết” (tr. 131).

Đó là một nguyên mẫu của trách nhiệm, một quan hệ không chờ sự đáp trả, giữa người có khả năng hành động và một hữu thể đang lệ thuộc vào khả năng ấy. Các thế hệ mai sau cũng ở trong tình thế tương tự. Họ chưa thể lên tiếng, nhưng sự im lặng ấy không làm vơi đi trách nhiệm của người đang quyết định những điều kiện sống của họ, ngay hôm nay.

Trong lập luận của Jonas, đòi hỏi ấy không do con người tự đặt ra, nhưng bắt nguồn từ chính giá trị của sự sống cần được bảo vệ.

Hai Tiếng Nói Gặp Nhau

Đọc Laudato Si’ của ĐTC Phanxicô bên cạnh Jonas, chúng ta có thể có cảm giác đang nghe hai tiếng nói gặp nhau giữa đường. Dù Thông điệp không một lần nhắc tên Jonas, nhưng nhiều mối bận tâm của ông tìm được một âm vang rõ rệt ở trong đó.

Ở số 115, Đức Phanxicô dẫn lời Hồng y và là thần học gia Romano Guardini để phê phán cách nhìn kỹ trị là lối nhìn coi tự nhiên như một trật tự vô cảm, một khối dữ kiện lạnh lẽo, một đối tượng để sử dụng, một nguồn nguyên liệu chờ được nhào nặn cho hữu ích cho con người. Ở số 105, ngài chỉ ra rằng sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật đã không đi kèm với sự trưởng thành tương xứng về trách nhiệm, các giá trị và lương tâm của người sử dụng nguồn tự nhiên là chúng ta.

Trong khi quyền lực tiến rất nhanh, khả năng tự giới hạn và tự ý thức trách nhiệm trước ngôi nhà chung của nhân loại lại chậm hơn nhiều. Đó cũng là nỗi bận tâm xuyên suốt The Imperative of Responsibility của Jonas.

Hai tiếng nói còn gặp nhau ở một tầng sâu hơn. Jonas nói rằng sự sống là một cái “có” mà hiện hữu nói với chính mình. Laudato Si’ diễn tả giá trị riêng của các thụ tạo bằng ngôn ngữ đức tin, để nói rằng thụ tạo có giá trị trước mặt Thiên Chúa và, “chỉ bằng việc hiện hữu, chúng chúc tụng và tôn vinh Ngài” (số 69, dẫn Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 2416).

Dù không thể và không nên đồng nhất hai cách diễn đạt ấy, nhưng trong cái nhìn của người tín hữu, sự sống không chỉ tự khẳng định sự hiện hữu mà còn là một lời ca ngợi Đấng Tạo Hóa.

Vì thế, khi một loài biến mất, điều đã mất đi lớn hơn là mất một nguồn tài nguyên. Đức Phanxicô viết rằng, vì con người, hàng ngàn loài sẽ không còn tôn vinh Thiên Chúa bằng chính sự hiện hữu của chúng nữa, và con người không có quyền gây ra điều ấy (số 33). Trong hình ảnh của đức tin, đó là một phần ca đoàn tạo vật bị làm cho im tiếng. Điều này không thể hợp với ý định ban đầu của Thiên Chúa qua trình thuật tạo dựng.

Nhưng rồi hai tiếng nói gặp nhau bên chiếc nôi. Thông điệp xác định sự liên đới giữa các thế hệ là một vấn đề căn bản của công lý, chứ không phải lựa chọn tùy ý (số 159). Ngay sau đó, Đức Thánh Cha đặt câu hỏi về thế giới được để lại cho những người đến sau, cho những trẻ em đang lớn lên hôm nay (số 160).

Đó cũng là câu hỏi của người đứng bên bất kỳ chiếc nôi nào: đứa trẻ này sẽ sống trong một thế giới như thế nào? Dẫu vậy, Jonas và đức tin Công giáo không nói hoàn toàn cùng một điều. Chính sự khác biệt ấy cũng đáng được suy nghĩ.

Jonas tìm cách xây dựng nền đạo đức trên những lý lẽ triết học có thể được thảo luận mà không đòi hỏi người đối thoại phải cùng chia sẻ một niềm tin tôn giáo. Khi bàn riêng về Thiên Chúa trong bài diễn văn về “Khái niệm Thiên Chúa sau Auschwitz”, đọc tại Đại học Tübingen nhân dịp nhận giải Leopold Lucas năm 1984, ông đưa ra một giả thuyết táo bạo khi nói: khi tạo dựng, Thiên Chúa đã từ bỏ quyền năng can thiệp vào diễn tiến vật lý của thế giới (tr. 10-11). Jonas nói rõ đây không phải một sự kiềm chế mà Thiên Chúa có thể gác lại khi muốn. Ngài đã im lặng trước Auschwitz không vì không muốn can thiệp, nhưng vì không thể (tr. 10).

Ông viết rằng, sau khi đã trao mình trọn vẹn cho sự hình thành của thế giới, Thiên Chúa không còn gì để trao nữa, nên giờ đây, đến lượt con người phải trao (tr. 12).

Dĩ nhiên giả thuyết ấy không thể được đồng nhất với đức tin Công giáo. Chính Jonas nhìn nhận rằng Thiên Chúa trong suy tư của ông “không phải là một Thiên Chúa toàn năng” (tr. 8), trong khi quyền năng lại là thuộc tính duy nhất của Thiên Chúa được Kinh Tin Kính nêu đích danh (Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 268). Trong Laudato Si’, thế giới là quà tặng của một Tình Yêu vẫn đang nâng đỡ công trình tạo dựng. Con người được trao phó để chăm sóc thế giới, chứ không phải tiếp quản một thế giới đã bị Thiên Chúa bỏ lại. Thông điệp cũng từ chối hai thái cực, bao gồm một thứ nhân bản lệch lạc coi con người là chủ nhân tuyệt đối, và một quan điểm lấy sự sống làm trung tâm theo cách xóa nhòa vị trí cùng trách nhiệm riêng của con người (số 118).

Như thế, có một điểm khá gần gũi với Jonas khi ông coi con người là hữu thể duy nhất được biết đến có khả năng mang trách nhiệm (The Imperative of Responsibility, tr. 137). Chỗ đứng đặc biệt ấy không phải giấy phép thống trị tuyệt đối. Đó là chỗ đứng của người phải trả lời về những gì mình làm cho tha nhân và thụ tạo.

Nỗi Sợ Của Người Mẹ

Một người tín hữu có thể băn khoăn: Đức Giêsu dạy ta đừng lo lắng về ngày mai (Mt 6,34). Liệu một nền đạo đức nhấn mạnh đến nỗi sợ có khiến người Kitô hữu trở nên bất an, nhìn đâu cũng thấy tai họa? Và nếu Thiên Chúa là Chủ của lịch sử, vì sao một con người nhỏ bé lại phải mang trên vai vận mệnh của cả hành tinh?

Những câu hỏi ấy không phải không hữu lý. Sự sợ hãi không đủ để nuôi dưỡng một đời sống phong nhiêu. Khi mọi viễn cảnh đều bị phủ màu tận thế, con người có thể mất khả năng hành động thay vì trở nên có trách nhiệm hơn với hiện tại.

Chính Jonas cũng thừa nhận phương pháp nhận thức nhờ nỗi sợ không phải lời cuối cùng trong việc tìm kiếm điều thiện, mà chỉ là một lời đầu tiên hữu ích (The Imperative of Responsibility, tr. 27). Thực tế là Laudato Si’ đã không mở đầu bằng một lời cảnh báo. Thông điệp mở đầu bằng lời ca ngợi của thánh Phanxicô Assisi, rồi đặt sự hoán cải sinh thái trên lòng biết ơn và việc nhận ra thế giới là quà tặng của tình yêu Thiên Chúa (số 220). Người ta khó chăm sóc lâu dài một điều chỉ khiến mình sợ hãi. Tình yêu mới giúp sự chăm sóc bền bỉ qua những ngày mệt mỏi.

Tuy nhiên, nỗi sợ hướng đến trách nhiệm không chỉ là nỗi sợ cho bản thân. Có thể hình dung nó như nỗi lo của người mẹ thức bên đứa con đang cảm sốt. Đó là một nỗi lo thay cho người khác, trước những điều người ấy chưa thể tự chống đỡ. Đó là tình yêu khi tình yêu nhìn về phía trước.

Lời dạy của Chúa Giêsu trong Mt 6 không nên được hiểu như sự miễn trừ khỏi việc chăm lo cho người khác. Cũng trong Tin Mừng Mátthêu, trình thuật phán xét đặt con người trước những người đói, người khát, người không nơi nương tựa (Mt 25). Niềm tín thác vào Thiên Chúa không khiến những khuôn mặt ấy trở nên kém quan trọng.

Còn về học thuyết Chúa Quan Phòng, truyền thống Công giáo có một cách diễn tả sâu sắc về sự cộng tác của thụ tạo. Thánh Tôma Aquinô viết rằng Thiên Chúa cai quản những hữu thể thấp hơn qua những hữu thể cao hơn, không vì quyền năng Người thiếu hụt, nhưng vì lòng tốt của Người dồi dào, đến mức thông ban cho thụ tạo cả phẩm giá được làm nguyên nhân – dignitas causalitatis (Summa theologiae I, q. 22, a. 3).

Chúa Quan Phòng không hề miễn trừ trách nhiệm của con người. Trái lại, trong sự quan phòng ấy, hành động của con người có một vị trí và một trọng lượng thực sự. Ta cũng cần tránh quy toàn bộ đạo đức của Jonas vào giả thuyết Thiên Chúa đã rút lui. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa suy tư thần học của ông và đức tin Công giáo vẫn làm sáng tỏ hai cách hiểu về lời gọi trách nhiệm. Trong giả thuyết của Jonas, con người phải đáp lại một thế giới mà Thiên Chúa không còn can thiệp bằng quyền năng. Với người Kitô hữu, con người được mời gọi chịu trách nhiệm vì đã được Thiên Chúa tin tưởng trao phó.

Như thế, người giáo dân không phải cứu cả hành tinh bằng sức riêng. Nhưng cũng không thể lấy sự nhỏ bé của mình làm lý do để bỏ mặc điều đang ở trong tầm tay, có thể bắt đầu từ những việc nhỏ bé là không xả rác xuống dòng sông nhà mình, hoặc không bỏ mặc dòng sông hôi thối và ứ đọng.

Nhìn Dòng Sông Như Chiếc Nôi

Trách nhiệm ấy mang hình dáng nào trong đời sống của một giáo dân bình thường là người không hoạch định chính sách và không điều hành nhà máy?

Thông điệp Laudato Si’ trả lời bằng những việc gần gũi mà ai cũng làm được, nào là giảm sử dụng nhựa, tiết kiệm nước, phân loại rác, tránh lãng phí thực phẩm, tắt đèn khi không cần thiết (số 211). Những việc ấy có thể trông quá nhỏ trước một cuộc khủng hoảng lớn. Nhưng sự nhỏ bé không đồng nghĩa với vô nghĩa. Nhiều cái bé sẽ hợp thành cái lớn.

Tác hại của thời đại kỹ thuật cũng được tích lũy từ vô số hành vi thường ngày. Vì thế, những thay đổi trong cách sống có một vai trò không thể bỏ qua. Mỗi lựa chọn có trách nhiệm vừa giảm một phần tổn hại, vừa tập cho con người bớt xem sự tiện lợi của bản thân là thước đo duy nhất.

Dẫu vậy, không thể trông chờ việc chữa lành chỉ đến từ các hành vi cá nhân. Những thay đổi về chính sách, sản xuất và cách tổ chức đời sống kinh tế cũng cần thiết. Trách nhiệm phải được phân định theo khả năng và quyền lực thực tế, chứ không thể đặt cùng một gánh nặng lên người quyết định hướng đi của một ngành công nghiệp và người chỉ đang cố kiếm sống.

Đức Phanxicô cũng không dừng lại ở những cử chỉ bên ngoài. Ngài nói đến một cuộc hoán cải sinh thái và xác định rằng sống ơn gọi bảo vệ công trình của Thiên Chúa là điều thiết yếu của một đời sống nhân đức, không phải một khía cạnh phụ hay tùy chọn của kinh nghiệm Kitô giáo (số 217).

Hoán cải ấy bắt đầu từ cái nhìn, rồi được nuôi dưỡng bằng những việc làm cụ thể. Khi một dòng sông chỉ được xem như nguồn nước để sử dụng, câu hỏi dễ dừng lại ở chỗ còn khai thác được bao nhiêu nguồn lợi từ nó. Nhưng khi dòng sông được nhìn như nơi nuôi dưỡng những sự sống và những cộng đồng, câu hỏi bắt đầu đổi khác: điều gì đang bị tổn thương, ai sẽ chịu hậu quả, và còn có thể làm gì để gìn giữ?

Hình ảnh chiếc nôi trong Jonas giúp mở ra sự thay đổi ấy. Trước đứa trẻ sơ sinh, ông không chỉ đưa ra một chuỗi lý lẽ. Ông còn mời người đối diện nhìn: “Hãy nhìn, và bạn sẽ biết” (The Imperative of Responsibility, tr. 131).

Triết học về sự sống của ông có thể được đọc như một nỗ lực giúp con người nhìn cây cỏ, con cá và thế giới sống bằng một sự chú ý tương tự, là nhận ra nơi đó những hữu thể đang duy trì sự tồn tại và có thể bị tổn thương bởi hành động con người. Dĩ nhiên, dòng sông không phải một đứa trẻ. Trách nhiệm đối với con người và trách nhiệm đối với các hữu thể khác cũng không hoàn toàn giống nhau. Nhưng cả hai đều có thể đánh thức cùng một thái độ, là không xem sự yếu thế của một hữu thể là lý do để bỏ mặc nó.

Người tín hữu còn nhìn sự sống ấy trong tương quan với Đấng Tạo Hóa. Chăm sóc một khu vườn, giữ gìn một nguồn nước hay bảo vệ nơi cư trú của một loài không chỉ là gìn giữ những thứ hữu ích. Đó còn là cách đón nhận một món quà mà con người không tự tạo ra và không có quyền tùy tiện làm hư hỏng.

Một ngày nào đó, đứng trước con kênh miền Tây đang chịu cảnh nhiễm mặn, người đứng bên bờ có thể chưa biết phải làm gì để thay đổi tình thế. Nhưng những câu hỏi vẫn có thể cần thiết để bắt đầu: sự sống nào đang bị đe dọa, những gia đình nào sẽ mất kế sinh nhai, những đứa trẻ nào sẽ lớn lên trong một vùng đất khó sống hơn?

Có lẽ trách nhiệm bắt đầu khi những câu hỏi ấy không còn được xem là chuyện của người khác. Dòng nước không nói thành lời. Chiếc nôi cũng vậy. Nhưng trước cả hai, có những điều không cần được nói ra mới trở thành một lời gọi, và một sự trao phó không thể bị phụ lòng.

Nguồn Tham Khảo

Hans Jonas, The Imperative of Responsibility: In Search of an Ethics for the Technological Age (Chicago: University of Chicago Press, 1984). Các số trang dẫn từ tác phẩm này theo ấn bản đã được tác giả đối chiếu.

Hans Jonas, The Phenomenon of Life: Toward a Philosophical Biology (New York: Delta, 1968; tái bản từ ấn bản Harper & Row, 1966).

Hans Jonas, “The Concept of God after Auschwitz: A Jewish Voice”, The Journal of Religion 67, số 1 (1987): 1-13. Bản tiếng Anh do Jonas dịch từ bài diễn văn tiếng Đức năm 1984.

Đức Giáo hoàng Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số dẫn trong bài là số đoạn của thông điệp.

Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 268, 2416.

Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae I, q. 5, a. 1; I, q. 22, a. 3.

Kinh Thánh: Mt 6,34; Mt 25,31–46; sách Giôna.

Bài trướcLỜI SỐNG (Thứ Sáu, Tuần 27 TN)