Chú giải Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay, Năm C (Lc 15,1-3.11-32)

0
453

THƯƠNG XÓT VÀ HOÁN CẢI

Lm. Giuse Phạm Duy Thạch, SVD chú giải

Bản văn và dịch sát nghĩa (Lc 15,1-3.11-32)

Hy Lạp Việt
Ἦσαν δὲ αὐτῷ ἐγγίζοντες πάντες οἱ τελῶναι καὶ οἱ ἁμαρτωλοὶ ἀκούειν αὐτοῦ.

2 καὶ διεγόγγυζον οἵ τε Φαρισαῖοι καὶ οἱ γραμματεῖς λέγοντες ὅτι οὗτος ἁμαρτωλοὺς προσδέχεται καὶ συνεσθίει αὐτοῖς.

3 Εἶπεν δὲ πρὸς αὐτοὺς τὴν παραβολὴν ταύτην λέγων·

11 Εἶπεν δέ· ἄνθρωπός τις εἶχεν δύο υἱούς.

12 καὶ εἶπεν ὁ νεώτερος αὐτῶν τῷ πατρί· πάτερ, δός μοι τὸ ἐπιβάλλον μέρος τῆς οὐσίας. ὁ δὲ διεῖλεν αὐτοῖς τὸν βίον.

13 καὶ μετ᾽ οὐ πολλὰς ἡμέρας συναγαγὼν πάντα ὁ νεώτερος υἱὸς ἀπεδήμησεν εἰς χώραν μακρὰν καὶ ἐκεῖ διεσκόρπισεν τὴν οὐσίαν αὐτοῦ ζῶν ἀσώτως.

14 δαπανήσαντος δὲ αὐτοῦ πάντα ἐγένετο λιμὸς ἰσχυρὰ κατὰ τὴν χώραν ἐκείνην, καὶ αὐτὸς ἤρξατο ὑστερεῖσθαι.

15 καὶ πορευθεὶς ἐκολλήθη ἑνὶ τῶν πολιτῶν τῆς χώρας ἐκείνης, καὶ ἔπεμψεν αὐτὸν εἰς τοὺς ἀγροὺς αὐτοῦ βόσκειν χοίρους,

16 καὶ ἐπεθύμει χορτασθῆναι ἐκ τῶν κερατίων ὧν ἤθιον οἱ χοῖροι, καὶ οὐδεὶς ἐδίδου αὐτῷ.

17 εἰς ἑαυτὸν δὲ ἐλθὼν ἔφη· πόσοι μίσθιοι τοῦ πατρός μου περισσεύονται ἄρτων, ἐγὼ δὲ λιμῷ ὧδε ἀπόλλυμαι.

18 ἀναστὰς πορεύσομαι πρὸς τὸν πατέρα μου καὶ ἐρῶ αὐτῷ· πάτερ, ἥμαρτον εἰς τὸν οὐρανὸν καὶ ἐνώπιόν σου,

19 οὐκέτι εἰμὶ ἄξιος κληθῆναι υἱός σου· ποίησόν με ὡς ἕνα τῶν μισθίων σου.

20 καὶ ἀναστὰς ἦλθεν πρὸς τὸν πατέρα ἑαυτοῦ. Ἔτι δὲ αὐτοῦ μακρὰν ἀπέχοντος εἶδεν αὐτὸν ὁ πατὴρ αὐτοῦ καὶ ἐσπλαγχνίσθη καὶ δραμὼν ἐπέπεσεν ἐπὶ τὸν τράχηλον αὐτοῦ καὶ κατεφίλησεν αὐτόν.

21 εἶπεν δὲ ὁ υἱὸς αὐτῷ· πάτερ, ἥμαρτον εἰς τὸν οὐρανὸν καὶ ἐνώπιόν σου, οὐκέτι εἰμὶ ἄξιος κληθῆναι υἱός σου.

22 εἶπεν δὲ ὁ πατὴρ πρὸς τοὺς δούλους αὐτοῦ· ταχὺ ἐξενέγκατε στολὴν τὴν πρώτην καὶ ἐνδύσατε αὐτόν, καὶ δότε δακτύλιον εἰς τὴν χεῖρα αὐτοῦ καὶ ὑποδήματα εἰς τοὺς πόδας,

23 καὶ φέρετε τὸν μόσχον τὸν σιτευτόν, θύσατε, καὶ φαγόντες εὐφρανθῶμεν,

24 ὅτι οὗτος ὁ υἱός μου νεκρὸς ἦν καὶ ἀνέζησεν, ἦν ἀπολωλὼς καὶ εὑρέθη. καὶ ἤρξαντο εὐφραίνεσθαι.

25 Ἦν δὲ ὁ υἱὸς αὐτοῦ ὁ πρεσβύτερος ἐν ἀγρῷ· καὶ ὡς ἐρχόμενος ἤγγισεν τῇ οἰκίᾳ, ἤκουσεν συμφωνίας καὶ χορῶν,

26 καὶ προσκαλεσάμενος ἕνα τῶν παίδων ἐπυνθάνετο τί ἂν εἴη ταῦτα.

27 ὁ δὲ εἶπεν αὐτῷ ὅτι ὁ ἀδελφός σου ἥκει, καὶ ἔθυσεν ὁ πατήρ σου τὸν μόσχον τὸν σιτευτόν, ὅτι ὑγιαίνοντα αὐτὸν ἀπέλαβεν.

28 ὠργίσθη δὲ καὶ οὐκ ἤθελεν εἰσελθεῖν, ὁ δὲ πατὴρ αὐτοῦ ἐξελθὼν παρεκάλει αὐτόν.

29 ὁ δὲ ἀποκριθεὶς εἶπεν τῷ πατρὶ αὐτοῦ· ἰδοὺ τοσαῦτα ἔτη δουλεύω σοι καὶ οὐδέποτε ἐντολήν σου παρῆλθον, καὶ ἐμοὶ οὐδέποτε ἔδωκας ἔριφον ἵνα μετὰ τῶν φίλων μου εὐφρανθῶ·

30 ὅτε δὲ ὁ υἱός σου οὗτος ὁ καταφαγών σου τὸν βίον μετὰ πορνῶν ἦλθεν, ἔθυσας αὐτῷ τὸν σιτευτὸν μόσχον.

31 ὁ δὲ εἶπεν αὐτῷ· τέκνον, σὺ πάντοτε μετ᾽ ἐμοῦ εἶ, καὶ πάντα τὰ ἐμὰ σά ἐστιν·

32 εὐφρανθῆναι δὲ καὶ χαρῆναι ἔδει, ὅτι ὁ ἀδελφός σου οὗτος νεκρὸς ἦν καὶ ἔζησεν, καὶ ἀπολωλὼς καὶ εὑρέθη.

(Lk 15:11-32 BGT)

1 Bởi vì tất cả những người thu thuế, cùng những kẻ tội lỗi thường đến với Đức Giê-su để nghe Người,

2 và những người Pharisêu và các Kinh Sư cứ kêu trách, nói rằng: ‘Ông ấy tiếp đón phường tội lỗi và cùng ăn với chúng’.

3 Người mới nói cùng họ dụ ngôn này, rằng:

11 “Một người nọ có hai con trai.

12 Người con thứ nói với cha: ‘Thưa cha, xin ban cho con một phần tải sản thuộc về con!’ Rồi người cha đã phân chia của cải cho họ.

13 Không nhiều ngày sau đó, sau khi thu gom tất cả, người con thứ lên đường đi vào nơi xa xôi. Và ở đó, anh ta phung phí tài sản của anh vào lối sống buông thả.

14 Sau khi anh ta đã tiêu xài hết tất cả [tài sản] của anh, thì có một nạn đói nghiêm trọng xảy ra trong miền đó và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu.

15 Anh ta ra đi để được sống bám vào một người dân trong vùng ấy; và người này sai anh ta ra cánh đồng để chăn heo.

16 Lúc ấy, anh ta cứ ao ước có thể lấp thỏa mãn cơn đói với những hạt đậu muồng mà những con heo thường ăn, nhưng không ai cho anh ta.

17 Sau khi đi vào trong chính nội tâm của mình, anh xác định rằng: ‘Biết bao nhiêu người làm công cho cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết vì nạn đói ở đây!

18 Sau khi trỗi dậy, tôi sẽ đi về cùng cha tôi, và sẽ nói với người: ‘Thưa cha, con đã trót phạm tội chống lại trời và trước mặt cha;

19 con không còn đáng được gọi là con cha nữa, xin xử với con như một trong những người làm công của cha thôi’.

20 Và sau khi trỗi dậy, anh ta đã đi về cùng cha anh ta. Khi anh ta còn ở đàng xa, thì cha anh ta đã thấy nó, và ông chạnh lòng thương và sau khi chạy đến, ông bá lấy cổ nó mà hôn thắm thiết.

21 Người con mới nói với ông: ‘Thưa cha, con đã phạm tội chống lại trời và trước mặt cha, con không còn xứng đáng được gọi là con cha nữa’

22 Nhưng cha của anh ta đã nói cùng các đầy tớ: ‘Hãy mau đem áo choàng loại một mà mặc cho cậu, hãy đặt nhẫn vào tay nó, và giày vào chân nó;

23 rồi mang con bê đã được vỗ béo và giết thịt, chúng ta phải ăn tiệc mừng,

24 vì người con này của ta, người đã chết mà lại sống lại, đã mất đi mà lại được tìm thấy’. Và họ bắt đầu chung vui.

25 Nhưng người con cả của ông thường ở ngoài cánh đồng. Sau khi về đến, anh ta lại gần ngôi nhà, anh ta nghe tiếng nhạc và nhảy múa.

26 Sau khi gọi một người đầy tớ lại, anh ta cứ hỏi những điều ấy có nghĩa gì.

27 Người đầy tớ nói với anh ta: ‘Người em của cậu đã về đến, và cha cậu đã cho giết thịt con bê đã được vỗ béo, vì ông đã nhận lại cậu trong tình trạng khỏe mạnh’.

28 Nhưng anh ta đã nổi giận và cứ không muốn đi vào trong. Sau khi đi ra, cha của anh ta nài nỉ anh ta.

29 Để đáp lại, anh ta nói với cha của anh rằng: ‘Xem kìa! Đã bao nhiêu năm trời, tôi làm tôi mọi cho ông và không bao giờ trái lệnh của ông; nhưng ông không bao giờ cho tôi được một con dê con để ăn mừng với những đứa bạn của tôi.

30 Còn nó, thằng con ông, sau khi đã nuốt hết tài sản của ông với gái mãi dâm, trở về, thì ông lại giết thịt con bê đã được vỗ béo.’

31 Ông nói cùng anh ta: ‘Này con! con luôn ở với cha, thì tất cả những gì của cha đều là của con.’

32 Nhưng nhất thiết phải hân hoan và tổ chức tiệc mừng, vì nó, em con đó, đã chết mà lại sống, đã mất mà lại được tìm thấy.’”

 

 

Bối cảnh: Dụ ngôn được gọi là “người cha nhân hậu”[1]; “người con hoang đàng”; hay “hai người con”[2] được đặt trong bối cảnh những người Pharisêu và những Kinh Sư cứ kêu trách về việc tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi đến để nghe Đức Giêsu. Dụ ngôn này được đặt sau hai dụ ngôn khác nói về sự thất lạc và tìm thấy: (1) Con chiên bị mất và được tìm thấy (Lc 15,4-7); (2) Dụ ngôn đồng bạc bị mất và được tìm thấy (Lc 15,8-10). Hai dụ ngôn nói về sự lạc mất của con vật, sự vật dẫn đến dụ ngôn thứ ba nói về sự lạc mất của con người, hai người con trong gia đình Thiên Chúa. Nhìn thời lượng của dụ ngôn thứ ba (22 câu) so với cả hai dụ ngôn thứ nhất và thứ hai (7 câu) độc giả có thể thấy tầm quan trọng của dụ ngôn thứ ba, dụ ngôn “người cha nhân hậu”. Chủ đề “hoán cải – giao hòa” là một chủ đề bao trùm toàn bộ Tin Mừng Luca khởi đầu từ lời tụng ca “Bênêđíctus của ông Dacariah, bố của ông Gioan Tẩy Giả: “Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên” (Lc 1,77). Gioan Tẩy Giả, người dọn đường cho Chúa, rao giảng, kêu gọi người ta chịu Phép Rửa của lòng hoán cải để được ơn tha tội (Lc 3,3); Hoán cải đích thực phải được thể hiện bằng cách “sinh hoa trái xứng với lòng hoán cải” (Lc 3,8).[3] “Hãy hoán cải” là thông điệp Tin Mừng nền tảng và đầu tiên của Đức Giêsu: “Hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng”.[4] Người cũng khẳng định rằng “Người không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi đi vào cuộc hoán cải” (Lc 5,32). Người cũng cho thấy niềm vui của triều thần trên trời vì một người tội lỗi hoán cải, hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải hoán cải (Lc 15,7). Sự trở lại của Lêvi, người thu thuế (Lc 5,27-32) và của cục trưởng chi cục thuế, Giakêu (Lc 19,1-10) là hai ví dụ khả thể cho chủ đề này. Trong dụ ngôn “ông nhà giàu và anh Ladarô nghèo khổ”, ông nhà giàu nói với tổ phụ Ápraham rằng “nếu có ai đến với họ từ cõi chết, họ sẽ hoán cải” (Lc 16,30). Tin Mừng Luca khép lại với mệnh lệnh của Đức Giêsu dành cho các Tông Đồ: “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ hoán cải để được ơn tha tội” (Lc 24,47). Dụ ngôn “người cha nhân hậu” là một ví dụ tuyệt vời nhất minh họa cho chủ đề lòng thương xót, và sự hoán cải.

Cấu trúc: Ngoài phần dẫn nhập nói về bối cảnh của dụ ngôn, đoạn văn còn lại gồm năm cảnh dựa trên hoạt động của các nhân vật.

Dẫn nhập (15,1-3): Lý do kể dụ ngôn

Cảnh I: Người cha và hai người con (11-12)

Cảnh II: Người con thứ sa đọa và hồi tâm (13-19)

Cảnh III: Người cha và người con thứ (20-24)

Cảnh IV: Người con cả trở về từ ngoài đồng (25-27)

Cảnh V: Người cha và người con cả (28-32)

Cảnh kết: Mở (có thể cảnh đoàn tụ cả ba cha con)

 

Một số điểm chú giải

  1. Người thu thuế và người tội lỗi: Cặp nhân vật “những người thu thuế” và “những người tội lỗi” thường đi chung với nhau. “Những người thu thuế” được định nghĩa bằng nghề nghiệp của họ, trong khi “những người tội lỗi” được định nghĩa bằng nhân cách đạo đức của họ. Thỉnh thoảng “những người thu thuế” đi chung với “những cô gái điếm” (cũng là những người tội lỗi) (Mt 21,31.32. Người thu thuế cũng được đồng hóa với người tội lỗi (x. Lc 19,7). Điều mà cặp nhân vật này có chung là họ đều bị những người Do Thái đương thời khinh bỉ, ghét bỏ. Những người thu thuế bị ghét bỏ vì họ là những người làm việc cho đế quốc. Nhất là, họ thường tham lam “thu hơn những gì đã được ấn định” (Lc 3,13) và gây đau khổ cho những người đồng hương. Những người tội lỗi bị khinh dễ vì họ xa rời Thiên Chúa, tách ra khỏi Thiên Chúa là Đấng Thánh Thiện. May mắn thay, cặp nhân vật này là những đối tượng mà Đức Giêsu muốn kêu gọi: “Ta không đến để kêu gọi người công chính mà là những người tội lỗi” (Mc 2,17; Mt 9,13; Lc 5,32). Bằng chứng là họ thường được Đức Giêsu đồng hành, dạy dỗ, ăn uống với (Mc 2,15; Lc 5,30; 7,34; 15,1). Khác với các tác giả khác, tác giả Luca gắn liền câu chuyện “xức dầu Đức Giêsu” với một người phụ nữ tội lỗi vô danh trong thành (Lc 7,36-50). Chuyện xảy ra khi Đức Giêsu đang dùng bữa tại nhà một người Pharisêu tên là Simôn. Một người phụ nữ tội lỗi đã đi vào đã “đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên”. Ông Simôn đã nghi vấn về tư cách ngôn sứ của Đức Giêsu khi Người để cho người phụ nữ tội lỗi làm như thế. Câu chuyện kết thúc với kết thúc với lời tuyên bố tha tội và ơn cứu độ dành cho người phụ nữ ấy. Luca cũng là tác giả duy nhất ghi lại câu chuyện hoán cải của người trộm lành trên thánh giá (Lc 23,39-43). Tác giả Luca ghi lại nhiều chi tiết tích cực về những người thu thuế: (1) Những người thu thuế đến xin chịu Phép Rửa của ông Gioan Tẩy Giả và hỏi ông về điều mà họ phải làm để tỏ lòng hoán cải (Lc 3,12); (2) Những người thu thuế nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Công Chính (Lc 7,29); (3) Dụ ngôn người thu thuế cầu nguyện qua việc nhìn nhận tội lỗi của mình và được nên công chính (Lc 18,9-14); (4) Ông Giakêu, thủ lãnh những người thu thuế, hoán cải và được cứu độ; (5) Ơn gọi của Lê-vi, một người thu thuế (chuyện này có trong Mc và Mt). Trong bối cảnh dụ ngôn này, cặp nhân vật này cũng được tác giả Luca mô tả với cái nhìn tích cực vì họ dù tội lỗi nhiều nhưng đã biết hoán cải.
  2. Những Kinh Sư và những người Pharisêu: Đối lại với cặp nhân vật “người thu thuế-người tội lỗi” là cặp nhân vật “người Kinh Sư-người Pharisêu”. Đây là cặp nhân vật được những người Do Thái đương thời tôn trọng, yêu mến vì sự hiểu biết và những thực hành đạo đức. Họ là những người công chính theo nghĩa là những người giữ Lề Luật (Mt 5,20). Họ chịu trách nhiệm giảng dạy dân chúng (Mt 23,2). Tuy nhiên, họ thường được mô tả như là những cặp nhân vật “phản diện” trong các sách Tin Mừng. Họ thường tranh cãi với Đức Giêsu về truyền thống của tiền nhân (Mc 7,1-3). Tranh luận về luật “chữa bệnh vào ngày Sabát” (Lc 6,3). Họ nghĩ Đức Giêsu phạm thượng khi Người tuyên bố tha tội cho người bại liệt (Lc 5,21). Họ căm giận Đức Giêsu và gài bẫy để bắt lỗi Đức Giêsu (Lc 11,53-54). Họ thường trách cứ và lấy làm khó hiểu, khi Đức Giêsu ăn uống và làm bạn với những người thu thuế và những người tội lỗi (Lc 5,30; 15,1). Trong Tin Mừng Mátthêu, họ được gọi là “giả hình” nhiều lần (Mt 23,13.14.15.23.25.27.29). Trong bối cảnh này, họ xuất hiện như cặp nhân vật không hài lòng với sự kiện Đức Giêsu chào đón cặp nhân vật “người thu thuế-người tội lỗi”. Họ được mời gọi chia sẻ lòng thương xót của Chúa dành cho những người tội lỗi.
  3. Cha và hai con trai: Câu giới thiệu này cho thấy đây là một câu chuyện gia đình. Những nhân vật trong câu chuyện có tương quan ruột thịt. Nó hoàn toàn khác với hai dụ ngôn trước đó, nói về “đồng bạc bị mất” (một sự vật) và “một con chiên” (một con vật). Dụ ngôn nhấn mạnh tương quan căn bản tồn tại giữa người cha và hai người con.[5]
  4. Người cha
  • Chia tài sản [βίος, bios] cho hai con: Người cha tôn trọng tự do người con thứ và sẵn sàng chia tài sản cho con. Tác giả Luca lại dùng lối chơi chữ với chữ “tài sản” khi mô tả cái mà người cha chia cho hai người con. Danh từ “bios” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tài sản”. Tuy nhiên, nghĩa đầu tiên của danh từ này là “sự sống”. Vì thế, cái mà người cha chia cho hai người con vừa có thể là “tài sản”, vừa là chính “sự sống” của ông. Người con thứ xin cha chia cho anh “một phần bản thể thuộc về anh” (x. Phần về người con thứ phía dưới), người cha lại chia cho anh “sự sống” của chính ông. Người con tưởng rằng mình nhận được “phần bản thể của mình” và “phung phí” nó bằng “lối sống phóng đãng”. Tuy nhiên, cái mà anh ta nhận và phung phí là “sự sống” của người cha. Người anh cả, trong câu kết án người em, cũng dùng lại từ này: “Sau khi nó đã phung phí sự sống của ông với gái điếm, trở về, thì ông lại giết thịt con bê đã được vỗ béo” (15,30).
  • Trông thấy người con thứ từ xa: Mệnh đề “khi anh ta còn ở đằng xa, ông đã trông thấy” cho thấy một sự chủ động mong chờ. Tác giả không ghi lại ông đã trông chờ bao lâu. Có thể là ông vẫn trông chờ mỗi ngày, mỗi phút, mỗi giây từ lúc người con thứ ra đi, nên khi anh ta vừa xuất hiện thì ông thấy ngay. Khi người con thứ chưa kịp nhìn thấy người cha thì người cha đã thấy anh rồi. Có thể có người đặt câu hỏi rằng tại sao người cha đã không đi tìm người con thứ như trong trường hợp người chủ chiên đi tìm con chiên, hay người phụ nữ tìm đồng bạc?. Đó là sự khác biệt giữa sự vật, đồ vật và con người. Con người có lý trí và có tự do quá lớn. Người cha đã không cản được người con thứ đòi chia gia tài và nhất quyết ra đi; người cha cũng không thể khuyên anh ta trở về nếu anh không muốn.
  • Chạnh lòng thương (ἐσπλαγχνίσθη): Động từ “chạnh lòng thương” được dùng mười hai lần trong các sách Tin Mừng. Tác giả Mátthêu dùng hai lần và Máccô dùng một lần để diễn tả tình thương của Đức Giêsu dành cho đám đông: “Khi thấy đám đông, Người chạnh lòng thương họ vì họ bơ vơ và không ai giúp đỡ, như đàn chiên không có mục tử” (Mt 9,36; 14,14; Mc 6,34). Tác giả Luca sử dụng động từ này ba lần, một lần cho Đức Giê-su, một lần cho người Samari nhân hậu và một lần cho người cha trong dụ ngôn này. Đức Giêsu chạnh lòng thương bà góa thành Nain và an ủi bà: “Đừng khóc nữa” (Lc 7,13); Người Samari nhân hậu chạnh lòng thương người đàn ông bị nạn bên đường (Lc 10,33). Người cha trong dụ ngôn này chạnh lòng thương, xót xa cho số phận bi thảm của người con thứ. Chính cảm xúc yêu thương ấy đã thúc đẩy ông thể hiện một loạt hành vi biểu lộ yêu thương sau đó.
  • Chạy: Hành động vội vã (chạy) cho thấy sự mừng rỡ, hạnh phúc của người cha. Dường như ông không thể chờ thêm một phút giây nào nữa. Ông có thể ngồi trong nhà, chờ anh ta vào và mắng cho một trận. Tình yêu và niềm mong nhớ đã làm cho ông không thể ngồi yên chờ đợi, thậm chí không thể đi bình thường mà phải chạy.
  • Ôm cổ (rơi vào cổ anh ta) và hôn thắm thiết (CGKPV: hôn lấy hôn để): Sau khi chạy đến, ông ôm cổ và hôn cách nồng nhiệt. Tất cả các hành động đều cho thấy nhịp độ bày tỏ tình yêu và nỗi niềm nhung nhớ một cách mãnh liệt, sâu sắc nhất. Những nụ hôn của người cha không chỉ mang tính chào hỏi, đón mừng nhưng còn là một biểu lộ của sự tha thứ hoàn toàn, giống như vua Đavít đã hôn hoàng tử Ápsalom, để bày tỏ sự tha thứ cho anh sau khi anh đã nổi loạn hòng cướp ngôi vua (2 Sm 14,33).[6]
  • Cho mang nhẫn vào tay và mang giày vào chân người con thứ: Tiếp tục loạt hành động thể hiện sự vui mừng người cha ra lệnh trong vội vã. Ông cắt ngang lời nói đã được soạn sẵn của người con: “Thưa cha! Con đã phạm tội chống lại trời và trước mặt cha, chẳng còn xứng đáng được gọi là con của cha nữa…”. Nếu như người con thứ đã soạn sẵn một bài diễn văn để diễn trước mặt cha, thì cha của anh cũng đã ấp ủ cả một kế hoạch bộc lộ sự yêu thương. Dường như ông không cần nghe anh ta nói gì, nhận lỗi ra sao, và càng không muốn nghe anh ta “nộp đơn xin việc” để được làm người làm công của cha. Ông ra một loạt mệnh lệnh cho những người đầy tớ: “Mang áo choàng hạng nhất và mặc cho cậu; Xỏ nhẫn vào bàn tay cậu và dép vào đôi bàn chân cậu; mang con bê đã được vỗ béo và giết thịt nó; Mở tiệc ăn mừng” (Lc 15,21-22). Một loạt bảy hành động được đưa ra cho thấy sự dồi dào, chu đáo trong kế hoạch của ông. Trạng từ “ταχύς” (takhus, nhanh chóng) được đặt phía trước loạt bảy hành động này, cho thấy một nhịp độ nhanh nhẹn, không thể chậm trễ hơn, và bầu khí náo nhiệt trong gia đình. Tính từ “πρῶτος” bổ nghĩa cho danh từ “áo choàng” nhằm định hình tính chất đặc biệt của chiếc áo choàng này. Tính từ này vừa có nghĩa là “trước đây” vừa có nghĩa là “thứ nhất” (đệ nhất, số một). Nó vừa là chiếc áo choàng trước đây mà cậu đã có, ngụ ý là cậu được phục hồi địa vị như trước. Hơn nữa, nó còn là chiếc áo “tốt nhất, đẹp nhất, sang nhất”, ngụ ý rằng cậu còn được yêu thương và trân trọng hơn trước kia nữa. Chiếc nhẫn, và đôi dép cũng chứng tỏ địa vị một cậu chủ và sự an toàn trong tay người cha. Từ nay, đôi tay của cậu lại có thể thi hành quyền bính của một cậu chủ, và đôi chân của cậu lại vững bước vì được cha nâng đỡ. Tính từ “σιτευτός” (đã được vỗ béo) định hình cho tính chất đặc biệt của con bê được giết thịt. Đó là một con bê “đã được vỗ béo” chứ không phải bất cứ con bê nào.[7] Tính từ “đã được vỗ béo” cho thấy một quá trình chuẩn bị từ lâu. Không biết từ bao giờ, người cha đã chuẩn bị sẵn hết mọi thứ để chờ giây phút trùng phùng này. Động từ “ăn mừng” được chia ở ngôi thứ nhất số nhiều “chúng ta hãy ăn mừng”. Cách dùng này cho thấy ông chủ mời tất cả những người trong nhà kể cả những tôi tớ, hay người làm công, chung vui với ông. Đó hẳn là một bữa tiệc lớn nhất và không hạn chế người tham dự. Lý do là con của ông “đã chết mà nay sống lại, đã hư mất nay lại được tìm thấy”. Sự vui mừng khôn tả của người cha gợi nhớ và hoàn tất niềm vui của ngưởi mục tử trong dụ ngôn “con chiên bị thất lạc” và của người phụ nữ trong dụ ngôn “đồng bạc bị mất”. Cả hai dụ ngôn ấy đều được kết thúc với khẳng định của Đức Giêsu: “Sẽ có niềm vui mừng trên trời vì người tội lỗi hoán cải, hơn là chín mươi chín người công chính không cần hoán cải” (Lc 15,7);  “Sẽ có niềm vui trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa vì một người tội lỗi hoán cải” (Lc 15,10).
  • Năn nỉ người con cả: Người ta có thể đặt câu hỏi rằng tại sao người cha lại bỏ rơi người con cả, trong khi tổ chức một đại tiệc lớn như vậy? Phải chăng người cha đã đối xử “nhất bên trọng, nhất bên khinh”? Hay vì vui mừng quá, nên người cha quên người con cả đang ở ngoài đồng? Đó không phải là những điều mà dụ ngôn nhắm đến. Điều mà dụ ngôn nhắm đến là sự “giận dữ” và “nằng nặc không muốn đi vào” của người con cả. Hành động “không muốn” (οὐκ ἤθελεν) của người con cả được chia ở thì vị hoàn, diễn tả một sự kéo dài, khăng khăng (nằng nặc không muốn). Ứng với hành động “nằng nặc không muốn vào” của người con cả, người cha cũng “kêu mời hoài”. Động từ “mời gọi” được chia ở thì vị hoàn (παρεκάλει), diễn tả sự nài nỉ, an ủi của người cha.
  • Gọi người con cả với ngôn từ thân thương “Con à!” (τέκνον, teknon): Trong khi người con cả không hề gọi tiếng “cha” từ đầu đến cuối câu chuyện, đặc biệt là trong lúc giận dỗi, người cha vẫn gọi cậu bằng cách gọi thân thương nhất “teknon”. Đây là cách mà những người cha dành cho những đứa con lúc còn nhỏ. Cách gọi ấy cho thấy người cha vẫn luôn dành cho người con tất cả tình thương. Ông cũng nhắc nhở rằng người con thứ là “người em của” anh ta, chứ không phải là “người con của cha” như nó nghĩ: “Người em này của con đã chết mà nay lại sống; đã mất nay lại được tìm thấy” (Lc 15,32). Hơn nữa, ông cũng dành cho anh ta tất cả những gì mình có. Trong khi người con tưởng rằng mình không có một “con dê con” để ăn mừng với bạn bè, thực tế anh lại có tất cả: “Con luôn ở với cha, thì tất cả những gì của cha đều là của con”.
  1. Người con thứ
  • Xin chia phần tài sản [bản thể]: Phân chia gia tài thường là việc làm của những người sắp qua đời và người ta chỉ được hưởng gia tài sau khi cha mình chết. Tuy nhiên, một điều hơi lạ trong dụ ngôn này là người con thứ xin chia phần tài sản của cậu, ngay khi cha chưa có dấu hiệu thập tử nhất sinh. Vì chỉ có hai người con, mà người con đầu thì được hưởng gấp đôi phần tài sản theo Đnl 21,17, nên người con thứ chỉ được một phần ba.[8] Chi tiết lý thú và rất ý nghĩa nằm trong cách dùng từ có phần chơi chữ của Luca. Người con thứ xin rằng: “Thưa cha, xin cho con phần tài sản (οὐσία, ousía) con được hưởng” (15,12). Danh từ “ousia” trong bản văn gốc Hy Lạp thường được dịch là “tài sản” còn có một nghĩa khác. Danh từ này có nguồn gốc từ động từ “eimi” có nghĩa là “tồn tại”, “hay hiện hữu”. Trong từ vựng thần học Kitô giáo, homoousios là một trong những từ quan trọng, vì nó được dùng để diễn tả sự “đồng bản thể” của Chúa Con với Chúa Cha (đồng bản thể với Đức Chúa Cha).[9]“Ousia” ở đây có nghĩa là “bản thể”. Như vậy, đã quá rõ, cậu không chỉ đơn thuần xin phần tài sản vật chất, mà quyết liệt hơn, cậu xin cha cho cậu “bản thể, bản tính” của cậu. Lời thỉnh cầu của cậu cho thấy cậu đang tưởng rằng cậu đang đánh mất chính mình, khi ở trong nhà với cha mình. Cậu tưởng rằng dưới sự chăm sóc của người Cha, cậu chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là chính mình. Cậu muốn là chính mình. Cậu muốn làm chủ cuộc đời mình. Vì thế, cậu nhất định phải ra đi, đến một nơi xa, nơi nào không có bóng dáng người Cha. Cậu muốn mình phải là cha của chính mình. Cậu tưởng rằng chỉ có như thế, cậu mới là chính mình, cậu mới có “ousia” của mình. Như vậy, ý hướng ra đi khỏi nhà, khỏi tầm kiểm soát yêu thương của người Cha là ý tưởng chủ đạo, chứ không phải là ý tưởng về phần tải sản vật chất. Tài sản vật chất chỉ là lộ phí cho hành trình đi tìm chính mình của cậu.
  • Thu gom tất cả: Việc thu gom tất cả cho thấy cậu muốn hưởng gia tài ngay, chứ không phải đợi ngày cha mất. Chi tiết thu gom tất cả cho thấy cậu quyết chí ra đi và không còn vương vấn gì nữa. Chi tiết này cũng cho thấy tác giả Luca chuẩn bị cho cảnh sau đó: Cảnh mà người cha ra lệnh mang áo choàng hạng nhất ra mặc cho cậu, đặt nhẫn vào tay cậu và giày vào chân cậu. Thu gom tất cả thì chắc chắn không còn những vật dụng quý giá này ở trong nhà.
  • Lên đường đi vào một nơi xa: Cậu xin chia tài sản là để ra đi. Không gian “một nơi xa” tiếp tục cho thấy người con thứ muốn thoát hẳn khỏi gia đình, người thân, bạn bè và cả đồng hương. Cậu chỉ muốn một thế giới mới của riêng cậu. Anh ta muốn tài sản và tự do, không cần quan tâm đến cha. Theo tục lệ vùng Cận Đông, sau khi được chia tài sản anh ta vẫn còn trách nhiệm chăm sóc người cha nhưng khi quyết định đi xa, anh đã chối bỏ trách nhiệm ấy.[10]
  • Sự tuột dốc không phanh: Bắt đầu từ sự phung phí tài sản [bản thể] bằng cách sống buông thả, cậu đã tuột dốc không phanh. Cậu từng bước tiêu xài phung phí (15,13) “bản thể – ousia” của mình và đánh mất mình. Tác giả Luca mô tả sự tuột dốc của cậu như một cầu thang xoắn được kết nên từ nhiều bậc. Từ một người Do Thái cậu đến nơi vùng đất của dân ngoại, đồng hoá với dân ngoại; cậu phung phí bằng lối sống buông thả – cậu tự đồng hoá mình với những người tội lỗi; từ cậu ấm, cậu chủ, cậu tụt xuống thân phận người làm thuê – cậu trở thành một đầy tớ; đầy tớ mà lại là đầy tớ chăn heo[11] – một con vật ô uế, cậu được xếp thấp nhất trong bậc đầy tớ; từ bậc đầy tớ cậu lại muốn ăn thức ăn của heo – cậu được xem ngang bằng với heo; và đỉnh điểm của việc tuột dốc đánh dấu bằng sự kiện cậu không được ăn thức ăn của heo – và thậm chí cậu không bằng một con heo của dân ngoại. Heo của dân ngoại, có thể nói là được xếp thấp nhất trong các con vật trong suy nghĩ của người Do Thái. Đừng quên, bầy heo chính là đối tượng mà quỷ muốn nhập vào, và tất cả đều gieo mình xuống biển (Lc 8,32-33).

Tiến trình tụt dốc ấy có thể được mô tả cách ngắn gọn bằng sơ đồ sau: Cậu chủ – người Do Thái – người ngoại – buông thả – tội lỗi – đầy tớ chăn heo – con heo – dưới con heo. Đó không chỉ là đỉnh điểm của sự nghèo đói khốn cùng về vật chất, nhưng là một sự suy thoái nghiêm trọng về nhân phẩm, phẩm giá và cả căn tính của con người. Nhân phẩm của cậu bị hạ giá đến mức tận cùng, không bằng một con vật ô uế. Một con vật mà người Do Thái kinh tởm còn có giá hơn cậu.

  • Hồi tâm: Có thể nói là tài sản quý giá nhất mà người con thứ còn lại là “sự hồi tâm” (nghĩa đen là “đi vào trong chính mình”). Chính giây phút hồi tâm bên đàn heo, giúp cho cậu tìm ra chút ánh sáng cuối đường hầm. Cậu nhận ra được sự tốt lành và ấm cúng trong vòng tay của cha cậu. Cậu nhận ra “người làm thuê của cha” cậu luôn có dồi dào bánh mì. Nhận ra điều ấy là nhận ra cậu sướng biết bao nhiêu khi ở trong gia đình, vì cậu không phải là người làm công. Đây là dấu hiệu dẫn anh ta đến việc trải nghiệm lòng thương xót của người cha.[12] Giúp cậu nhận ra mình có lỗi với trời và trước mặt cha.[13] Đây có thể được xem là bước khởi đầu của tiến trình sám hối mà cậu sẽ thú nhận với cha ở 15,17b-19.21.[14]
  • Luôn gọi “cha”: Cái hay của người con thứ là từ đầu đến cuối dù ở nhà hay đã bỏ đi hoang, anh vẫn gọi tiếng cha rất thân thương: “Thưa cha” (15,12.18.21; “Cha tôi” (15,17.18.20). Trong thâm tâm, anh vẫn xem mình là “con” của cha, chỉ có điều anh cảm thấy không xứng đáng được gọi là “con của cha” nữa. Hơn nữa, điểm đến của anh trong cuộc trở về không phải là ngôi nhà, nhưng là một con người bằng xương bằng thịt: Anh đi về cùng cha của anh (Lc 15,18.20).[15]
  • Toan tính làm thuê cho cha: Ước mong trở về của anh có vẻ chỉ là mưu toan nhằm sống còn. Điều đáng quý là anh đã nhận ra lỗi lầm của mình nghiêm trọng cỡ nào. Anh thấy lỗi mình lớn đến nỗi không xứng đáng được tha thứ và được gọi là con nữa. Anh chỉ mong cha đón nhận anh với thân phận của một người làm công. Suy nghĩ, toan tính của anh hoàn toàn trái ngược với suy nghĩ đầy yêu thương của người cha. Người cha đã phục hồi cho anh tất cả, và cho anh ta hơn tất cả những điều anh ta không dám nghĩ đến.
  1. Người con cả:
  • Ở ngoài đồng (ἐν ἀγρῷ): Đối lại với nơi ở của người con thứ (ở phương xa), không gian của người con cả là ở trên đồng. Động từ ở (eimi) được chia ở thì vị hoàn (imperfect) diễn tả tình trạng đã, đang và có thể sẽ tiếp tục. Chi tiết này nghe có vẻ bình thường đối với một người làm nông trại, nhưng lại rất bất thường trong toàn bộ câu chuyện. Tác giả Luca dường như gợi mở một không gian hoạt động bất thường của người anh hai trong tương quan với gia đình, đặc biệt là với người cha. Trong khi người cha ở nhà, người con cả luôn ở trên cánh đồng, xa cách cha của mình. Anh ta có thể chỉ biết một việc là làm và làm chứ không để ý chút gì đến cõi lòng của người cha. Trong nỗi nhung nhớ da diết, tan nát cõi lòng của người cha, thì anh vẫn ở ngoài đồng. Có lẽ anh không thể nào cảm nghiệm được nỗi lòng ua uất đang gặm nhắm, bào mòn sức khỏe của người cha già.
  • Không biết chuyện gì xảy ra: Khi về gần nhà, nghe thấy tiếng nhạc và tiếng nhảy múa, anh hai vội gọi “một trong những cậu bé” đến để hỏi xem có chuyện gì xảy ra. Đó là một thực tế rất hợp logic. Người con cả luôn ở ngoài đồng, không quan tâm đến tâm trạng người cha thì làm sao biết được chuyện nhà. Chuyện nhà của anh, nhưng anh lại không biết mà phải hỏi người “cậu bé” người làm trong nhà. Cha anh đãi tiệc chắc là mời nhiều người. Điều này ngụ ý rằng chuyện mà người ngoài ngõ đã tường trong khi người trong nhà lại chưa tỏ. Anh ta chưa tỏ vì thực ra anh không ở trong nhà. Về điểm này có thể nói sự gần gũi và hiểu biết của anh về chuyện nhà không bằng một người làm công. Tương quan của anh và người cha cũng không bằng tương quan giữa cha anh và “cậu bé” (người phục vụ).[16] Người làm công luôn gần gũi bên cha của anh, hòa với niềm vui của cha anh, và có lẽ cả nỗi buồn suốt những năm tháng qua nữa, còn anh thì không hay biết gì.
  • Tức giận và không muốn đi vào: Dù rằng, những người đầy tớ có vẻ háo hức vui mừng kể cho người con cả nghe về niềm vui của người cha, vì vừa nhận lại được người con khỏe mạnh. Chắc người đầy tớ cũng hy vọng anh ta sẽ vui lòng. Tuy nhiên, lòng anh ta giờ đây chỉ còn một cảm giác giận dữ và chỉ chờ để được trút giận. Anh ta không muốn vào nhà tý nào. Động từ “muốn” (thêlô) lại được thánh Luca dùng ở thì vị hoàn (ἤθελεν, êthelen), nghĩa là tình trạng không muốn vẫn cứ tiếp tục. Tất cả mọi nguyên nhân của sự bực tức sẽ được anh ta bộc lộ trong cuộc đối thoại với người cha.
  • Làm nô lệ cho cha và không trái lệnh (Tương quan chủ – tớ): Trong khi những người những người đầy tớ được mô tả gần gũi với người cha như là người thân (được gọi là “cậu bé”), người con cả lại cảm thấy mình như là một người đầy tớ. Điều này thể hiện rõ trong động từ mà anh ta dùng để diễn tả hành vi của anh ta dành cho người cha: “Xem kìa! Đã bao nhiêu năm tôi phục dịch [“δουλεύω”, douleúo] ông và không bao giờ bỏ qua một mệnh lệnh [“ἐντολή”, entole] nào của ông”. Động từ “δουλεύω” có thể dịch thoáng là “phục vụ”, “hầu hạ”, nhưng nghĩa chính xác của nó là “làm nô lệ”, “phục vụ cho ai như là một nô lệ”.[17] Danh từ “δούλος”, có thể được dịch là “người phục vụ”, nhưng nghĩa chính xác của nó là “người nô lệ”, hay “người đầy tớ”. Trong nỗi bực dọc, người con cả có lẽ muốn ám chỉ rằng anh ta đã làm việc cho cha anh như là một người nô lệ.[18] Tương tự, danh từ “ἐντολή” có thường được hiểu như là “điều răn”, “lệnh truyền” của Chúa, nhưng nghĩa đen của nó là “mệnh lệnh” mà một ông chủ dành cho một người đầy tớ. Trong bối cảnh này, rất có thể người con cả dùng nghĩa đen. Anh cảm thấy mình luôn phải thi hành mệnh lệnh của của cha mình. Anh xem tương quan giữa cha anh và anh như là tương quan giữa ông chủ và đầy tớ đã bao năm nay rồi.
  • Không một lần gọi tiếng “cha”: Trong bản dịch Việt ngữ (CGKPV) cách xưng hô của anh nghe có vẻ nhẹ nhàng: “Cha coi”, thế nhưng trong nguyên ngữ tiếng Hy Lạp không hề có một tiếng cha như thế, tất cả đại từ mà anh hai dùng trong cuộc đối thoại với cha chỉ là đại từ ngôi thứ hai (σύ, su) mà thôi, chứ không phải là cha (πατήρ, Pater). Vì thế, câu nói của “anh hai” trong ngôn ngữ bực dọc có thể là: “Ông coi, đã bao nhiêu năm trời tôi hầu hạ ông, và không bao giờ bỏ qua mệnh lệnh một mệnh lệnh của ông, thế mà chưa bao giờ ông cho lấy được một con dê con để tôi ăn mừng với bạn bè của tôi”. Điều này hoàn toàn khác biệt đối với tâm thức của người con thứ. Dẫu rằng ngỗ nghịch, đi xa nhưng trong lòng anh ta lúc nào cũng xem người cha là cha của mình. Lúc nào anh cũng gọi là “cha tôi”: “biết bao người làm công cho cha tôi”; “Thưa cha! Con thật đắc tội…”; “thôi ta đứng lên đi về cùng cha”.
  • Không xem người con thứ là em: Sự giận dữ và ghanh tỵ, và ấm ức bao năm đã khiến anh giũ bỏ tương quan với em của anh luôn. Cuối cùng, ranh giới được người anh hai vạch rõ ràng hơn khi tuyên bố “thằng con của ông kia” (ὁ υἱός σου οὗτος). Khi gọi em của anh là “thằng con của ông”, anh không còn xem người ấy là em của anh nữa, giống như anh không phải là con của cha anh, hoặc là con ghẻ, con nuôi.[19]
  • Đòi một con dê con đ ăn mừng với chúng bạn: Không xem ông ấy là cha, cho nên “con dê con” nếu có, anh ta cũng chỉ muốn được “nhậu” với những người bạn của anh (μετὰ τῶν φίλων μου) chứ không phải với cha, với gia đình. Thực tế này cho thấy rằng người anh cả dù thân xác ở nhà nhưng anh lại xa cha, xa gia đình.[20] Điều này hợp với tiến trình mà thánh Luca mô tả anh từ đầu đến giờ: Ở ngoài đồng, không biết nhà đang có chuyện vui gì, không muốn vô nhà, tự xem mình là một người nô lệ, ăn mừng với chúng bạn. Tất cả dữ liệu đều chứng tỏ rằng anh ta không thuộc về gia đình này, người cha không phải là cha anh, người con thứ không phải là em của anh.
  1. Kết thúc mở: Dụ ngôn kết thúc một cách lạ lùng. Đức Giêsu không cho biết rằng cuối cùng người con cả có hiểu nỗi lòng người cha hay không. Liệu rằng anh ta có được giải tỏa bao nỗi uất hận, hờn căm bấy lâu? Liệu anh ta có thể học lấy bài học về lòng nhân hậu của người cha để thông cảm và tha thứ cho người em của mình? Anh ta có lại gọi tiếng “cha” và gọi tiếng “em” hay không? Cuối cùng anh ta có vào chung vui bữa tiệc hay không? Nếu anh ta đi vào thì hẳn bữa tiệc sẽ vui hơn gấp bội. Còn nếu anh ta không vào thì bữa tiệc sẽ mất vui và người cha lại tiếp tục đau khổ vì một người con khác tiếp tục thất lạc. Kết thúc mở ấy là một lời mời gọi mở ra cho những người đang mang “nỗi tức giận” và “không muốn vào” của người anh cả. Trong bối cảnh này, những người đó có thể là những Kinh Sư và những người Pharisêu, vì họ đã “kêu trách” khi những người “tội lỗi” và “thu thuế” thường đến với Đức Giêsu để nghe người. Hình ảnh của người anh cả cũng là hình ảnh của các tín hữu qua mọi thời đại. Đó có thể là những tín hữu sống “cách lòng” với Thiên Chúa, không thấu hiểu nỗi lòng Thiên Chúa, thiếu sự hiệp lòng với Chúa; hay những người chỉ xem mình như những “người nô lệ”, chỉ biết thi hành luật lệ của Chúa trong sự bực bội khó chịu; hoặc là những người ghanh tỵ với lòng thương xót tha thứ mà Thiên Chúa dành cho những người tội lỗi. Thiên Chúa vẫn “nài nỉ” và chờ đợi họ vào dự tiệc vui với Chúa. Vào hay không vào vẫn sẽ là chọn lựa tự do của mỗi người. Kết thúc mở của câu chuyện mở ra cho các nhân vật người anh cả trong câu chuyện và cho cả các tín hữu qua mọi thời đại một chân trời giao hòa: Giao hòa giữa cha và con, giữa anh và em, với chính bản thân mình với biết bao nhiêu quan điểm, và suy nghĩ tiêu cực.

Bình luận tổng quát

Sau khi nghiên cứu về cả ba nhân vật trong dụ ngôn này, dụ ngôn này có thể được gọi là  “dụ ngôn về Người cha nhân từ và hai người con bị mất”,[21] bởi lẽ xét cho cùng cả hai người con đều bị lạc và người cha vẫn dành lòng thương xót cho cả hai. Người con thứ bị lạc theo lối sống tự do, buông thả của mình, trở nên băng hoại về đạo đức và lâm vào tình trạng bế tắc, khốn cùng nhất. Người con cả bị lạc trong lối sống kỷ luật, bận tâm quá nhiều đến công việc, bổn phận, đến nỗi cảm giác như mình là nô lệ trong nhà mình. Anh thiếu tình yêu để có thể cảm nhận được tình yêu của cha dành cho chính anh, và cho em của anh. Anh thiếu rộng lượng của một người anh để có thể thấy thương xót và tha thứ cho những lỗi lầm của người em.

Bối cảnh của dụ ngôn là bối cảnh của một gia đình, trong đó có một người cha và hai người con. Người ta có thể đặt câu hỏi là người mẹ đâu rồi? Câu trả lời có thể giản đơn là người cha là hình ảnh của Thiên Chúa. Người vừa là cha, vừa là mẹ. Người con cả là hình ảnh tượng trưng cho những Kinh Sư và những, người Pharisêu và người con thứ đại diện cho những người thu thuế và những người tội lỗi. Nội dung câu chuyện xoay quanh cung cách đối xử của người cha, cũng là Thiên Chúa, đối với hai loại con cái trong gia đình Thiên Chúa: Người tội lỗi và những người xem mình là công chính.[22]

Sự phân chia của cải (bios), món quà sự sống, mà người cha dành cho hai người con cho thấy ông yêu thương cả hai và công bằng với cả hai. Tuy nhiên, cả hai người con đều không dùng gia tài ấy, món qùa ấy để sống theo thánh ý của ông, nên ông cảm thấy phiền lòng.

Người con thứ đã rời xa gia đình và phung phí tải sản (bản thể) của mình bằng lối sống buông thả nơi vùng dân ngoại. Anh ta đã lao dốc không phanh từ địa vị một cậu chủ – một người Do Thái – Anh trở thành người ngoại – đầy tớ chăn heo cho người ngoại – ao ước ăn thức ăn của heo – không được – thấp hơn cả con heo. Từ địa vị cậu chủ xuống địa vị tôi tớ; từ địa vị con người xuống địa vị con heo. Không còn một hình ảnh tuột dốc sa đọa nào có thể diễn tả hơn nữa tình trạng khốn cùng của người con thứ. Chính trong sự tận cùng của sự sa đọa ấy, người ta mới thấy được sự vĩ đại của tấm lòng người cha. Ông ta chẳng quan tâm cậu đã làm những điều xấu gì, đã xài bao nhiêu tiền, đi xa bao nhiêu. Từng ngày, từng giờ, ông vẫn mong chờ da diết qua hình ảnh “thấy anh ta từ đằng xa”, “chạy đến”, “ôm cổ”, “hôn thắm thiết”. Hơn nữa, ông đã cho chuẩn bị áo choàng tốt nhất, đẹp nhất, sang nhất, dép, nhẫn cùng với một con bê được vỗ béo. Ông đã làm tất cả những điều tỉ mỉ nhất, lớn lao nhất để đón mừng ngày người con thứ trở về. Người cha phục hồi lại cho người con thứ tất cả từ địa vị, quyền làm con và tài sản. Có thể nói rằng, người cha đã trả lại cho anh ta “bản thể” (căn tính) mà anh cứ tưởng là anh đã phung phí hết. Thực ra, người cha chỉ trao cho anh “sự sống” của mình. Bản thể, căn tính của anh, vẫn luôn thuộc về anh. Niềm vui mừng của ông là niềm vui của người thấy con sống lại. Không niềm vui nào có thể sánh bằng niềm vui ấy.

Người con cả, dù ở lại gia đình, nhưng cũng thất lạc. Khi quá bận tâm với việc đồng áng, việc bổn phận, anh không thể thấy và chia sẻ được nổi niềm của người cha. Anh làm việc nhưng lại không vui vì luôn nghĩ rằng mình là một người đầy tớ. Câu nói của anh lúc giận dữ bộc lộ những uất ức chất chứa trong lòng anh bấy lâu. Lâu nay tương quan cha-con đã bị đổ bể tan nát hết rồi. Anh không thể gọi cha mình một tiếng cha dù cho ông vẫn gọi anh ta là “teknon” (đứa con nhỏ), vì anh nghĩ rằng ông ích kỷ với anh, trong khi lại rộng lượng với người con thứ. Tương quan anh-em cũng không còn, vì anh cay cú với lỗi lầm của em mình và không thể tha thứ cho nó. Anh nằng nặc không muốn đi vào nhà của anh và chung vui bữa tiệc đoàn viên với người thân ruột thịt của anh. Anh đánh mất chính mình, lạc mất cả người cha và người em ruột.

Người cha, Thiên Chúa, luôn ao ước tất cả người con đều vào dự tiệc vui với Người. Chính vì thế, Người vẫn nài nỉ và mở đường cho một mối giao hòa trong gia đình Thiên Chúa. Tuy nhiên, câu trả lời vẫn nằm ở chọn lựa tự do của mỗi người con.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD

Chú thích:

[1] J. Jeremias, The Parables of Jesus (New York 1963) 128.

[2] T.W. Manson, The Sayings of Jesus as Recorded in the Gospels According to St. Matthew and St. Luke (London 1971) 284.

[3] Xem thêm về hoa trái của lòng hoán cải trong J.P.D. Thạch, “Những Hoa Trái của Lòng Hoán Cải. Chú Giải Tin Mừng CN III MV C” [LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI ῥήματα ζωῆς αἰωνίου: NHỮNG HOA TRÁI CỦA LÒNG HOÁN CẢI. Chú giải Tin Mừng CN III MV C (Lc 3,10-18) (josephpham-horizon.blogspot.com)].

[4] “Hoán cải ở đây rõ ràng là không chỉ giới hạn vào sự hối lỗi và chừa lỗi nhưng là biến đổi lòng mình, trí mình, hành vi của mình theo cách suy cách nghĩ và cách hành động của Chúa” [LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI ῥήματα ζωῆς αἰωνίου: TỪ PHÉP RỬA HOÁN CẢI ĐẾN ƠN CỨU ĐỘ. Chú Giải Tin Mùng CN II MV C (Lc 3,1-6) (josephpham-horizon.blogspot.com)].

[5] C. Naseri, “Reading Luke 15:11-32 as the Parable of Mercy and Compassion”, CABAN 9 (2017) 142-159, 152.

[6] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV. Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 28A, 1089.

[7] Xem thêm chi tiết “con bê đã được vỗ béo” trong Nguyễn Tầm Thường, “Anh Cả” [anh ca :: Anh Cả :: Tác Giả Lm. Nguyễn Tầm Thường :: Memaria].

[8] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1087.

[9] P.F. Beatrice, “The Word “Homoousios” from Hellenism to Christianity”, Church History 71/2 (2002) 243-272, 243.

[10] K.R. Snodgrass, Stories with Intent. A Comprehensive Guide to the Parables of Jesus (Grand Rapids 2018) 113.

[11] Những lời dạy của các rabbi sau này đưa ra một sự nguyền rủa dành cho người đan ông chăn heo (J. Fitzmyer, The Gospel According to Luke X‐XIV, 1088).

[12] C. Naseri, “Reading Luke 15:11-32 as the Parable of Mercy and Compassion”, CABAN 9 (2017) 142-159, 154.

[13] “What was the prodigal’s sin against heaven and his father? Several answers have been given: the request for his share of the possessions, his covetousness, his leaving, his squandering, his lifestyle, or his neglect of his father” (K.R. Snodgrass, Stories with Intent, 113).

[14] K.R. Snodgrass, Stories with Intent, 118; “This realization and the remorse are the beginning of his repentance” (J. Fitzmyer, The Gospel According to Luke X‐XIV, 1088).

[15] K.R. Snodgrass, Stories with Intent, 120.

[16] A. J. LEVINE, Short Stories by Jesus. The Enigmatic Parables of Controversial Rabbi (JNNT; New York 2015) 67.

[17] “The elder son uses the vb. douleuein, which implies that he puts himself not in the category of a hired hand (misthios), but of a slave (doulos): “serving you faithfully like a slave” (J. Fitzmyer, The Gospel According to Luke X‐XIV, 1091).

[18] J. Green states that “The elder son, having never left home, nevertheless regards himself as a slave to his father” [J. B. GREEN, The Gospel of Luke (NICNT; Michigan 1997) 579].

[19] C. Naseri, “Reading Luke 15:11-32 as the Parable of Mercy and Compassion”, CABAN 9 (2017) 142-159, 155; “Thus the elder son expresses the height of his scorn; he cannot bring himself to speak of the younger son as “my brother” (J. Fitzmyer, The Gospel According to Luke X‐XIV, 1091).

[20] L. T. JOHNSON, The Gospel of Luke (D.J. HARRINGTON ed.) (SP 3; Collegeville 1991) 238.

[21] B. Young, Jesus the Jewish Theologian (Peabody, Mass: Hendrickson, 1995), p. 143.

[22] C. Naseri, “Reading Luke 15:11-32 as the Parable of Mercy and Compassion”, CABAN 9 (2017) 142-159, 151.

Bài trướcKHÁT VỌNG HÒA BÌNH
Bài tiếp theoLỜI SỐNG (Chúa Nhật, Tuần 4 Mùa Chay – C)