Đức Giêsu là người Kitô hữu đầu tiên… và cũng là cuối cùng

0
384
Photo: David Yonatan González Aburto from Pixabay
Tu sĩ Giuse Nguyễn Đình Trường
– Học Viện Ngôi Lời

 

Ngang qua những tác phẩm của mình, triết gia Friedrich Nietzsche đã không ít lần lên tiếng phê phán giáo lý và cả đức tin Kitô giáo. Dù vậy, ông vẫn dành sự tôn trọng đặc biệt cho Đức Giêsu. Nietzsche không ngừng yêu mến con người lý tưởng của Đức Giêsu. Ông xem Ngài như là một nhà cải cách tôn giáo, một người dám đứng lên “chống lại” những thực hành bề ngoài của người Do Thái. Ông nhìn nhận Đức Giêsu là người Kitô hữu đầu tiên – và cũng là người Kitô hữu cuối cùng. Ông đã thất vọng vì không còn thấy tinh thần của Đức Giêsu nơi những người Kitô hữu thời bấy giờ. Quả thật, Nietzsche có lý của ông.

Nhận định của Nietzsche “Đức Giêsu là người Kitô hữu đầu tiên – và cũng là người Kitô hữu cuối cùng” mời gọi chúng ta nhìn về đời sống của mình, tái khám phá căn tính của người Kitô hữu, đồng thời vươn lên để trở nên một người Kitô hữu tốt lành.

  1. Tái khám phá căn tính của người Kitô hữu

Căn tính của người Kitô hữu được làm sáng tỏ qua cách định nghĩa thánh Phêrô: Kitô hữu là “những người đang sống trong Đức Kitô” (x. 1 Pr 5,14). Khi tham gia đời sống Kitô giáo, mọi tín hữu đều thông phần vào những chân lý, những mầu nhiệm như nhau. Họ trở thành chi thể của Chúa Kitô và thành phần dân Thiên Chúa, thông dự cùng một Thánh Thần và làm con Chúa Cha. Lối định nghĩa này cũng gần với thánh Phaolô khi Ngài định nghĩa Kitô hữu là “những ai ở trong Đức Kitô” (x. Rm 8,1-2).

Đức Phanxicô trong một bài giáo lý đã nhấn mạnh rõ hơn đến ba nét tiêu biểu làm nên căn tính người Kitô hữu. Nét đầu tiên của người Kitô hữu là, chúng ta được chọn, được Thiên Chúa đặt hy vọng, được Ngài đặt tên, được Ngài thương mến. Nét thứ hai là, chúng ta được Thiên Chúa thứ tha. Và nét thứ ba, người Kitô hữu là người luôn bước trên đường hướng tới sự hoàn thiện, hướng tới cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô Đấng cứu chuộc chúng ta.[1] Chúng ta để ý hơn về nét thứ ba “người Kitô hữu là người luôn bước trên đường hướng tới sự hoàn thiện”, nghĩa là một người Kitô hữu phải là người Kitô hữu không ngừng hoàn thiện, không ngừng vươn đến sự trọn lành. Ở điểm này, chúng ta hiểu được lý do Nietzche xem Đức Giêsu là người Kitô hữu duy nhất. Bởi lẽ, Đức Giêsu mang dáng dấp của con người Siêu Nhân theo tư tưởng triết học của Nietzsche. Theo Nietzche, “con người là cái gì cần phải được vượt qua” (Man is something that shall be overcome) và Siêu Nhân là con người luôn vươn lên và Siêu Nhân là kẻ đã vượt thắng được con người, nghĩa là vượt thắng được chính mình[2].

Việc tái khám phá căn tính người Kitô hữu không chỉ dừng lại ở việc xác quyết chúng ta là ai nhưng là lời mời gọi mỗi người vươn lên trở thành một người Kitô hữu tốt lành như là cách thức để làm hoàn trọn căn tính Kitô hữu.

  1. Sự tốt lành mà người Kitô hữu cần vươn tới

Căn tính Kitô hữu mời gọi chúng ta hướng đến sự hoàn thiện mỗi ngày: người Kitô hữu tốt lành. Dĩ nhiên, chúng ta không nỗ lực để đi tìm chân dung một người Kitô hữu tốt lành theo những chuẩn mực của con người nhưng chúng ta đi tìm chân dung của người Kitô hữu tốt lành “như lòng Chúa mong ước”.

Người Kitô hữu tốt lành họa lại chân dung của Đức Giêsu nơi đời sống của mình để sống được lời Đức Giêsu đã nói: “Ở điểm này mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy” (x. Ga 13,30). Một người không thể trở thành một người Kitô hữu đúng nghĩa nếu người ấy không tìm cách trở nên tốt lành vì Thiên Chúa là Đấng tốt lành. Điều đó có nghĩa trở nên tốt lành là một đòi buộc cho mỗi người Kitô hữu. Dĩ nhiên, trước hết, cần xác định sự tốt lành mà chúng ta cần hoạ lại đó là sự tốt lành của Thiên Chúa.

Nhân từ, dịu dàng, nhẹ nhàng, dễ chịu… là những từ ngữ mà Tân Ước thường dùng nhất để miêu tả một Thiên Chúa yêu thương. Trong bài giảng mở đầu của Tin Mừng Luca, tác giả đã hoàn toàn xoay quanh tình yêu của Thiên Chúa khi Đức Giêsu nói: “Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người tốt lành (chrèstos) đối với cả phường vô ân và quân độc ác” (x. Lc 6,35). Thánh Luca sử dụng ở đây một tính từ thường xuyên xuất hiện trong các lời cầu nguyện của Kinh Thánh tiếng Hy Lạp: Thiên Chúa là “chrèstos”. Đó không chỉ là lòng tốt phù hợp với điều tốt (luân lý), nhưng là lòng tốt mà các thánh vịnh không ngừng nói đến: “Lòng nhân từ Chúa thật ngọt ngào” (Tv 108, 21). “Lạy Chúa, Chúa đầy tốt lành (chrèstos), thông hiểu và đầy lòng thương xót” (Tv 85, 5). “Hãy tạ ơn Chúa, vì Ngài nhân từ (chrèstos), vì tình yêu của Ngài là vĩnh cửu” (Tv 106, 1). “Hãy nếm xem Chúa ngọt ngào biết bao (chrèstos)” (Tv 33,9) hay “Chúa nhân từ (chrèstos) và ngay thẳng, Người dẫn dắt dân lầm đường” (Tv 24,8)[3]. Sự tốt lành của Thiên Chúa không cùng một phạm trù với điều tốt luân lý nhưng là chính lòng thương xót và nhân hậu của Thiên Chúa. Đó là sự tốt lành mà người Kitô hữu cần vươn tới.

  1. Làm sao để trở nên một người Kitô hữu tốt lành

Có nhiều cách thức để dẫn lối chúng ta đi đến sự tốt lành của Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, sự tốt lành của Thiên Chúa luôn đi kèm với lòng thương xót: “Lạy Chúa, Chúa đầy tốt lành (chrèstos), thông hiểu và đầy lòng thương xót” (Tv 85, 5). Đó chẳng phải là điều Chúa Giêsu mời gọi mỗi người ngang qua dụ ngôn “người Samari tốt lành” sao? Tinh thần của Đức Giêsu là thực thi lòng thương xót. Hay nói cách khác, thực thi lòng thương xót là một trong những con đường dẫn người Kitô hữu vươn tới sự tốt lành như Thiên Chúa.

Trong Thông điệp“Fratelli Tutti”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày Dụ ngôn Người Samari nhân hậu (Lc 10,29-37), mở đầu với đoạn dẫn nhập như sau: “Đức Giêsu kể câu chuyện về một người đàn ông bị kẻ cướp đánh và nằm bị thương bên vệ đường. Nhiều người đi ngang qua bên cạnh anh nhưng họ bỏ chạy, họ không dừng lại. Họ không thể dành vài phút để chăm sóc những người bị thương hoặc ít nhất là để tìm kiếm sự giúp đỡ. Chỉ có một người dừng lại, tới gần anh ta và đích thân chăm sóc anh, thậm chí chi tiền riêng của mình để cung cấp những gì anh cần. Chắc chắn, ông đã có kế hoạch riêng cho ngày hôm đó, nhưng ông đã có thể đặt mọi thứ sang một bên để đến trước người đàn ông bị thương, dù không hề quen biết anh ta, ông coi đó là điều xứng đáng để cống hiến thời gian và sự quan tâm của mình.”[4]. Không chỉ là qua lời nói mà còn là hành động: nâng dậy, chăm sóc,… ; hơn nữa, còn dám sẵn sàng thiệt thân.

Đó là kinh nghiệm về lòng thương xót của người bị nạn trong dụ ngôn trên: được đoái nhìn đến, được chăm sóc, được nâng lên và được chữa lành… nhờ đôi bàn tay của một người xa lạ. Những cử chỉ ấy phát xuất từ tình yêu mà như Đức Thánh Cha trong Thông điệp đã nhấn mạnh “Tình yêu thì biết xót thương và đầy nhân phẩm”[5].  Khởi đi từ kinh nghiệm ấy, chúng ta được mời gọi nhìn về một kinh nghiệm lòng thương xót lớn lao hơn. Kinh nghiệm về một vị Thiên Chúa cao sang, quyền uy vô cùng đã “cúi mình xuống để nâng con người lên”, “đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm… đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53, 4-6). Nếu như người Samari nhân hậu đã biểu lộ lòng thương xót ngang qua những cử chỉ giúp đỡ, dành thời gian và cả tiền bạc cho người bị nạn, tức là những thứ ngoài thân, thì vị Thiên Chúa của chúng ta đã biểu lộ lòng thương xót cho nhân loại bằng việc cho đi chính mình hầu con người “được đoái nhìn đến, được chăm sóc, được nâng lên và được chữa lành”. Thế nên, lời mời gọi của Đức Giêsu “Hãy đi, và cũng hãy làm như vậy!” (Lc 10,37) ở cuối dụ ngôn trở nên lời thúc bách những ai khao khát trở nên người Kitô hữu tốt lành.

Tóm lại

Niezcshe đã thật có lý của ông khi nhận định về Đức Giêsu như là người Kitô hữu đầu tiên và cuối cùng. Tư tưởng của Niezcshe mời gọi mỗi người tái khám phá căn tính của mình.

Người Kitô hữu là những người được chúc phúc, vì được Chúa chọn, vì được Chúa tha thứ, và là những con người đang tiến bước. Căn tính người Kitô hữu hướng mỗi người vươn lên tới sự hoàn thiện mỗi ngày, trở nên người Kitô hữu tốt lành. Sự tốt lành hoạ theo sự tốt lành của Thiên Chúa, chứ không phải sự tốt lành luân lý. Sự tốt lành của Thiên Chúa, trong Kinh Thánh, luôn đi kèm với lòng thương xót: “Lạy Chúa, Chúa đầy tốt lành, thông hiểu và đầy lòng thương xót” (Tv 85, 5). Thiên Chúa của chúng ta đã biểu lộ lòng thương xót cho nhân loại bằng việc cho đi chính mình hầu con người “được đoái nhìn đến, được chăm sóc, được nâng lên và được chữa lành”. Người Kitô hữu thực thi lòng thương xót như là phương thế để trở nên người Kitô hữu tốt lành như lòng Chúa ước mong: “Hãy đi, và cũng hãy làm như vậy!” (Lc 10,37).

Chú thích:

[1] Tứ Quyết, SJ, xem: https://tgpsaigon.net/bai-viet/ba-net-lam-nen-can-tinh-nguoi-kito-huu-50026

[2] Friedrich Nietzsche, Zarathustra đã nói như thế, Dg: Trần Xuân Kiêm, Nxb Dân trí (2021), tr.8.

[3] https://www.la-croix.com/Abonnes/Theologie/Vivre-en-chretien/Etre-chretien-c-est-etre-bon

[4] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti, Dg: Giuse Phan Văn Phi, O.Cist, Nxb Tôn giáo (2020), tr. 127-128.

[5] Sđd, tr. 127.

Bài trướcLỜI SỐNG (Thứ Tư, Tuần 11 TN)
Bài tiếp theoTường thuật lễ mừng kính các thánh tử đạo Uganda