Chú Giải Tin Mừng CN II Phục Sinh Năm B (Ga 20,19-31)

0
93

TỪ NGHI NGỜ SÂU THẰM ĐẾN NIỀM TIN TUYỆT ĐỈNH

Hy Lạp Việt
19Οὔσης οὖν ὀψίας τῇ ἡμέρᾳ ἐκείνῃ τῇ μιᾷ σαββάτων καὶ τῶν θυρῶν κεκλεισμένων ὅπου ἦσαν οἱ μαθηταὶ διὰ τὸν φόβον τῶν Ἰουδαίων, ἦλθεν ὁ Ἰησοῦς καὶ ἔστη εἰς τὸ μέσον καὶ λέγει αὐτοῖς· εἰρήνη ὑμῖν. 19 rồi buổi chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, cửa của nơi các môn đệ ở được khóa lại vì sợ những người Do Thái, Đức Giê-su đến và đứng giữa và nói với họ: “bình an cho anh em”
20καὶ τοῦτο εἰπὼν ἔδειξεν τὰς χεῖρας καὶ τὴν πλευρὰν αὐτοῖς. ἐχάρησαν οὖν οἱ μαθηταὶ ἰδόντες τὸν κύριον. 20 sau khi nói điều này, Người cho họ thấy bàn tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng khi họ thấy Chúa.
21εἶπεν οὖν αὐτοῖς [ὁ Ἰησοῦς] πάλιν· εἰρήνη ὑμῖν· καθὼς ἀπέσταλκέν με ὁ πατήρ, κἀγὼ πέμπω ὑμᾶς. 21 Đức Giê-su lại nói với họ: “bình an cho anh em. Như Chúa Cha đã sai thầy, thầy cũng gửi anh em.”
22καὶ τοῦτο εἰπὼν ἐνεφύσησεν καὶ λέγει αὐτοῖς· λάβετε πνεῦμα ἅγιον· 22 và sau khi nói điều này Người thở ra và nói cùng họ: “anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”
23ἄν τινων ἀφῆτε τὰς ἁμαρτίας ἀφέωνται αὐτοῖς, ἄν τινων κρατῆτε κεκράτηνται. 23 Anh em tha tội cho ai thì chúng được tha cho họ, anh em cầm giữ ai thì chúng bị cầm giữ lại.
24Θωμᾶς δὲ εἷς ἐκ τῶν δώδεκα, ὁ λεγόμενος Δίδυμος, οὐκ ἦν μετ᾽ αὐτῶν ὅτε ἦλθεν Ἰησοῦς. 24 nhưng Tô-ma, một trong nhóm mười hai, người gọi là Đí-đu-mos, người đã không ở với họ khi Đức Giê-su đến
25ἔλεγον οὖν αὐτῷ οἱ ἄλλοι μαθηταί· ἑωράκαμεν τὸν κύριον. ὁ δὲ εἶπεν αὐτοῖς· ἐὰν μὴ ἴδω ἐν ταῖς χερσὶν αὐτοῦ τὸν τύπον τῶν ἥλων καὶ βάλω τὸν δάκτυλόν μου εἰς τὸν τύπον τῶν ἥλων καὶ βάλω μου τὴν χεῖρα εἰς τὴν πλευρὰν αὐτοῦ, οὐ μὴ πιστεύσω. 25 các môn đệ khác nói với ông: “chúng tôi đã thấy Chúa”. Anh ta (Tô-ma) nói với họ: “nếu tôi không thấy dấu của những chiếc đinh ở bàn tay Người,  không đặt ngón tay tôi vào lổ của những cái đinh và đặt bàn tay tôi vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”
26Καὶ μεθ᾽ ἡμέρας ὀκτὼ πάλιν ἦσαν ἔσω οἱ μαθηταὶ αὐτοῦ καὶ Θωμᾶς μετ᾽ αὐτῶν. ἔρχεται ὁ Ἰησοῦς τῶν θυρῶν κεκλεισμένων καὶ ἔστη εἰς τὸ μέσον καὶ εἶπεν· εἰρήνη ὑμῖν. 26 và tám ngày sau khi các môn đệ lại ở trong (nhà) và Tô-ma ở với họ. Đức Giê-su đến khi cửa vẫn đang khóa kín, Người đứng giữa và nói: “bình an cho anh em”
27εἶτα λέγει τῷ Θωμᾷ· φέρε τὸν δάκτυλόν σου ὧδε καὶ ἴδε τὰς χεῖράς μου καὶ φέρε τὴν χεῖρά σου καὶ βάλε εἰς τὴν πλευράν μου, καὶ μὴ γίνου ἄπιστος ἀλλὰ πιστός. 27 rồi người nói với Tô-ma: “hãy lấy ngón tay anh đặt vào đây và hãy nhìn xem tay thầy và hãy mang bàn tay anh và đặt vào cạnh sườn của thầy, và đừng không tin nữa nhưng hãy tin”
28ἀπεκρίθη Θωμᾶς καὶ εἶπεν αὐτῷ· ὁ κύριός μου καὶ ὁ θεός μου. 28 Tô-ma đáp trả và nói cùng Người: “Đức Chúa của tôi ơi và Thiên Chúa của tôi ơi!”
29λέγει αὐτῷ ὁ Ἰησοῦς· ὅτι ἑώρακάς με πεπίστευκας; μακάριοι οἱ μὴ ἰδόντες καὶ πιστεύσαντες. 29 Đức Giê-su mới nói cùng anh: “vì đã thấy thầy nên anh đã tin? Phúc cho những người đã không thấy mà đã tin”
30Πολλὰ μὲν οὖν καὶ ἄλλα σημεῖα ἐποίησεν ὁ Ἰησοῦς ἐνώπιον τῶν μαθητῶν [αὐτοῦ], ἃ οὐκ ἔστιν γεγραμμένα ἐν τῷ βιβλίῳ τούτῳ· 30 thực sự, nhiều dấu khác Đức Giê-su đã làm trước mặt các môn đệ [của Người], những điều đã không được ghi trong cuốn sách này.
31ταῦτα δὲ γέγραπται ἵνα πιστεύ[σ]ητε ὅτι Ἰησοῦς ἐστιν ὁ χριστὸς ὁ υἱὸς τοῦ θεοῦ, καὶ ἵνα πιστεύοντες ζωὴν ἔχητε ἐν τῷ ὀνόματι αὐτοῦ. (Jn 20:19-31 BGT) 31 những những điều đã được viết ra là để anh chị em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô là con trai của Thiên Chúa, và để nhờ tin mà anh chị em có sự sống đời đời nhờ danh Người”

Bối cảnh

Ga 20,19-31 là một trong những loạt trình thuật kể về sự Phục Sinh của Đức Ki-tô. Đoạn văn tiếp theo ngay sau trình thuật về cuộc gặp gỡ riêng giữa Đức Giê-su Phục Sinh và chị Maria Ma-đa-lê-nê (Ga 20, 11-18). Trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và Maria Ma-đa-lê-nê phải được diễn ra để kết thúc hành trình tìm Chúa của chị đã được nói đến ở đầu chương 20 (20,1-2). Trong trình thuật ấy, tiến trình tìm Chúa, hay hành trình đức tin của Maria Ma-đa-lê-nê chỉ dừng lại ở việc nhìn thấy “ngôi mộ trống” và chạy về thông tin cho các môn đệ. Trong trình thuật sau đó (Ga 20,11-18), chị đã được gặp Đức Giê-su Phục Sinh và kết thúc bằng hành động: “về báo cho các môn đệ” rằng chị đã được “thấy Chúa” và kể cho các môn đệ nghe về những điều Đức Giê-su đã nói với chị (Ga 20,18). Tiếp theo là hành trình đức tin của các môn đệ còn lại. Mặc dù đã có “người môn đệ Chúa yêu” đã thấy và đã tin (Ga 20,8), và các môn đệ đã được chị Maria kể hết mọi sự về cuộc gặp giữa Đức Giê-su Phục Sinh và chị, tuy nhiên không dễ gì các môn đệ sẽ tin vào lời chứng của chị. Vì vậy, tường thuật về sự kiện Đức Giê-su hiện ra với các 10 môn đệ (Ga 20,19-31) là rất cần thiết để cải thiện hành trình đức tin của các môn đệ. Điểm đặc biệt của Gioan trong trình thuật này là sự vắng bóng của nhân vật Tô-ma để rồi sau đó ông hiện diện và xác tín niềm tin đanh thép vào Đức Chúa và Thiên Chúa của ông (Ga 20,28). Tiếp theo sau đoạn văn này là đoạn kết (được thêm vào sau) của Tin Mừng thứ tư (Ga 21,1-23). Đoạn (20,19-31) nối trực tiếp với đoạn ngôi mộ trống (20,1-10) bởi yếu tố về thời gian: “vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần”. Cụm trạng từ “ngày thứ nhất trong tuần” đã được nhắc đến trong trình thuật về ngôi mộ trống. Nghĩa là hai sự kiện xảy ra cùng ngày. Sự kiện trước xảy ra vào buổi sáng tinh sương (πρωῒ) và sự kiện này xảy ra vào  buổi chiều tối (ὀψίας). Sự kiện Đức Giê-su hiện ra lần này cũng là một bằng chứng rõ ràng, và cần thiết để bổ sung vào chứng cứ “ngôi mộ trống” để minh chứng cho sự Phục Sinh của Đức Ki-tô. Trình thuật này còn ghi nhận lời tuyên xưng rất quan trọng mang tính mang lại cái kết hoàn mỹ cho Tin Mừng thứ tư, Tin Mừng khởi đầu bằng việc giới thiệu rằng: “Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Tô-ma dẫu đến sau, tin muộn nhưng chỉ có niềm tin của ông mới vươn tối đỉnh điểm của thần tính của Đức Giê-su, Ngôi Lời Thiên Chúa. Qua lời tuyên xưng huyền thoại: “Lạy Đức Chúa, lạy Thiên Chúa của con” Tô-ma đã nối kết đoạn đầu của Tin Mừng với đoạn cuối, và qua đó nâng cao, hoàn trọn niềm tin của các môn đệ. Ngoài ra, Ga 20,19-31 còn ẩn chứa một chủ đề hết sức quan trọng bao trùm cả Tin Mừng thứ tư. Đó là chủ đề “tin”. Lời kết của đoạn này cũng là lời kết của toàn Tin Mừng thứ tư nói về mục đích của toàn bộ những dấu lạ đã được ghi chép lại trong sách này. Đó là “để anh chị em tin và nhờ tin và được sự sống nhờ danh” Đức Giê-su. Nội dung của niềm tin là: “Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa” (Ga 20,31).

Giới hạn và cấu trúc

Giới hạn:

Đoạn văn được tách biệt khỏi đoạn văn trước đó bằng dấu hiệu chuyển đổi về thời gian và không gian rất rõ nét: “vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần”. Không gian là nơi các môn đệ đang trú ngụ. Đó là một không gian khép kín bởi cửa đóng then cài. Ngoài ra, nhân vật cũng được thay đổi. Maria trong trình thuật trước đã được thay đổi thành “các môn đệ”. Đoạn văn tường thuật về sự kiện Đức Giê-su hiện ra với 11 môn đệ có thể kết thúc ở lời căn dặn của Đức Giê-su dành cho Tô-ma: “vì anh đã thấy thầy nên anh đã tin, phúc cho những ai đã không thấy mà đã tin” (Ga 20,29). Ga 20,30-31 là đoạn kết thúc của Tin Mừng thứ tư. Nó có thể là một đoạn riêng với nội dung thống nhất. Tuy nhiên, nội dung về niềm tin vào Đức Giê-su là con Thiên Chúa cũng không xa lạ với lời tuyên xưng đức tin của Tô-ma rằng Đức Giê-su là Đức Chúa và là Thiên Chúa. Vì thế, cũng có thể đọc đoạn kết này cùng với trình thuật về cuộc hiện ra với 11 môn đệ.

Cấu trúc:

Ga 20,19-31 gồm hai phần rõ rệt. Phần thứ nhất (A) nói về hai lần hiện ra của Đức Giê-su với 11 môn đệ. Lần thứ I (A’) trước sự chứng kiến của 10 môn đệ, không có sự hiện diện của Tô-ma. Lần thứ II (A”), nhóm môn đệ cùng với sự hiện diện của Tô-ma. Cả hai lần hiện ra đều có những phần tương tự và gần như song song với nhau. A1 bối cảnh // A1′ bối cảnh; A2. Đức Giê-su xuất hiện và ban bình an // A2′. Đức Giê-su xuất hiện và ban bình an; A3. Cho xem tay và cạnh sường // A3′. Cho xem lỗ đinh và mời gọi kiểm chứng; A4. Cảm xúc của các môn đệ // Phản ứng của Tô-ma: cứng lòng đến tin; A5. Ban bình an, Đức Giê-su làm như Chúa Cha // A5′. Đức Giê-su là Đức Chúa và là Thiên Chúa; A6. Thở hơi và ban Thánh Thần // A6′. Thấy và tin; A7. Trao quyền tha tội // A7′. Mối phúc: không thấy mà tin. Đoạn kết của cuộc hiện ra thứ nhất là việc trao ba sứ vụ qua việc trao ban Thánh Thần trong khi đó đoạn kết của lần hiện ra thứ hai là vấn đề tin, và mời gọi tin ngay cả khi không thấy.

A. Đức Giê-su hiện ra với 11 môn đệ

A’. Hiện ra lần I: Với mười môn đệ

      A1. Bối cảnh: Thời gian, không gian và nhân vật

                  A2. Đức Giê-su xuất hiện và ban bình an

      A3. Cho xem tay và cạnh sườn

                  A4. Cảm xúc của các môn đệ: Vui mừng

      A5. Ban bình an và sai đi

                  A6. Thở hơi và ban Thánh Thần

      A7. Ban quyền tha tội

A”. Hiện ra lần II: Mười môn đệ cùng với Tô-ma

      A1′. Bối cảnh: nhân vật, thời gian, không gian

                  A2′. Đức Giê-su xuất hiện và ban bình an

      A3′. Cho xem tay và cạnh sườn, mời gọi kiểm chứng

                  A4′. Cảm xúc Tô-ma: cứng lòng đến tin

      A5′. Tuyên xưng đức tin: Đức Chúa – Thiên Chúa

                  A6′. Thấy và tin

      A7′. Mối phúc: Không thấy mà tin

B. Kết luận của Tin Mừng thứ tư

      B1. Còn nhiều dấu không được viết

      B2. Mục đích viết: Để tin Đức Giê-su = Đấng Ki-tô = Con Thiên Chúa

      B3. Tin = sự sống đời đời nhờ danh Người

Một số điểm chú giải

  1. Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần: Cụm trạng ngữ chỉ thời gian “vào chiều ngày ấy” với danh từ ngày có chỉ định từ xác định và đi kem theo cụm danh từ giải thích “ngày thứ nhất trong tuần” cho thấy sự kiện này xảy ra cùng ngày với sự kiện “ngôi mộ trống”. Buổi sáng ngày ấy bà Maria Ma-đa-lê-nê cùng với các môn đệ đã chứng kiến ngôi mộ trống và người môn đệ Chúa yêu “đã thấy và đã tin” (Ga 20,1-10). Sau đó, Đức Giê-su lại hiện ra với riêng bà Maria Ma-đa-lê-nê vào thời gian trong ngày (Ga 20, 11-18), rồi vào chiều tối hôm ấy, Người lại hiện ra với các môn đệ.
  2. Cửa đóng kín vì sợ người Do Thái. Động từ “khóa” được dùng ở thể bị động, lối phân từ và thì hoàn thành. Lối phân từ có thể là cách dùng diễn tả về thời gian: “khi đang bị khóa”. Thì hoàn thành diễn tả một hành động mà kết quả vẫn còn kéo dài trong hiện tại. Mệnh đề trạng ngữ chỉ thời gian “khi cửa đã khóa” vừa nhấn mạnh sự xuất hiện cách siêu việt của Đức Giê-su Phục Sinh. Người có thể xuất hiện bất cứ nơi đâu và không bị giới hạn bởi không gian vật chất. Tình trạng “cửa bị khóa” cũng cho thấy tình trạng tâm lý của các môn đệ: “vì sợ người Do Thái”. “người Do Thái” được nói đến ở đây không phải là mọi người Do Thái cho bằng nhóm “người Do Thái” là đối thủ của Đức Giê-su trước kia và gây ra cái chết cho Người (Ga 5,10.16.18; 6,41.52; 7,1; 9,22). Động từ “khóa” được dùng đến hai lần trong đoạn này nhấn mạnh đến tình trạng hoảng sợ của các môn đệ và sự hiện diện vượt không gian của Đức Giê-su. Trong Tin Mừng thứ tư không chỉ có các môn đệ “sợ những người Do Thái”. Cha mẹ của anh mù từ thuở mới sinh, đã được Đức Giê-su chữa lành, cũng “sợ những người Do Thái” (Ga 9,22) khi họ được hỏi về cách thức làm thế nào mà con của họ được sáng mắt. Trong cuộc xử án Đức Giê-su, Phi-la-tô cũng sợ những người Do Thái khi họ nói cùng ông: “chúng tôi có luật và theo luật này thì nó phải chết vì nó cho rằng mình là Con Thiên Chúa” (Ga 19,7-8). Dĩ nhiên, nỗi sợ của các môn đệ trong bối cảnh này còn đáng sợ hơn vì đó là nổi sợ rằng cái chết tương tự như Thầy, sẽ xảy đến cho họ.
  3. Đức Giê-su đến đứng ở giữa. Vị trí của Đức Giê-su và cách xuất hiện của Người ở cả hai lần được ghi lại trong đoạn văn này là giống nhau. Đức Giê-su: “đến, đứng ở giữa”. Những hành động của Đức Giê-su vừa có tính nhân loại vừa cho thấy tính thần linh. Hành động “đến và đứng” là hành động của một người bình thường. Tuy nhiên, việc Đức Giê-su đến trong khi cửa đóng kín cho thấy thân xác phục sinh của Người vượt không gian. Hành động “đến” cho thấy sự chủ động của Người. Vị trí “ở giữa” vừa biểu lộ một điểm quy chiếu, trung tâm, linh hồn của nhóm, vừa cho diễn tả sự chứng kiến của tất cả các môn đệ. Người đến, và hiện diện giữa họ trong bối cảnh lòng họ đang rối bời hoảng sợ khủng khiếp.
  4. “Bình an cho anh em”: Sự hiện diện của Người trước hết là ban thông điệp bình an và ổn định tinh thần cho các sứ đồ. Hai lần Tin Mừng diễn tả những cánh cửa đóng kín, và một lần diễn tả lý do “vì họ sợ những người Do Thái” là những lý do để Đức Giê-su đưa ra lời chúc bình an. Thật vậy, chỉ riêng trong đoạn này Đức Giê-su đã chúc đến 3 lần: “Bình an cho anh em” (Ga 20,19.21.26). Mật độ dày đặc của lời chúc bình an của Đức Giê-su rất đáng chú ý. Nó làm cho độc giả cảm thấy sự vang vọng của sự bình an mà Đức Giê-su ban tặng: “bình an cho anh em”; “bình an cho anh em”; “bình an cho anh em”. Các môn đệ rất vui mừng vì được nhìn thấy Chúa. Họ như quên đi nỗi sợ hãi đang bao trùm. Thế nhưng, sự sợ hãi ấy vẫn chưa thể chấm dứt. Bằng chứng là trong lần hiện ra thứ hai được nói đến trong đoạn này, các cánh cửa “vẫn đóng kín”. Họ đã cảm nhận và đã tin vào sự sống lại của Chúa. Tuy nhiên, để bung cửa bước ra và hiên ngang loan báo tin vui này họ cần có sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng Pa-rác-lê mà Đức Giê-su hứa sẽ đến với họ (Ga 14,16.26).
  5. Cho xem tay và cạnh sườn: “tay và cạnh sườn” là nơi có những dấu tích của cuộc khổ nạn. Hai bàn tay là những nơi có những dấu đinh khi Người chịu đóng đinh vào thập giá (Ga 19,18.23). Các chuyên gia cố gắng giải thích, bàn luận về vị trí được đóng đinh trên tay của Đức Giê-su. Có người cho rằng nếu đóng vào hai bàn tay thì những mũi đinh đó không đủ để giữ cả thân hình của tội nhân. Thân xác nặng của tội nhân sẽ xé toạc lỗ đinh. Họ cho rằng, có lẽ những chiếc đinh được đóng vào cánh tay của tội nhân, vị trí nối giữa bàn tay và cánh tay. Lối lý giải này xem ra hợp lý. Tuy vậy, từ ngữ thánh Gioan dùng ở đây là “những bàn tay” (τὰς χεῖρας ) chứ không phải là những cánh tay. Cạnh sườn là nơi bị đâm thủng bởi cây giáo của một tên lính Rô-ma (Ga 19,31-37). Đối với 10 môn đệ kia Đức Giê-su chỉ cho họ xem “những bàn tay và cạnh sườn”, còn đối với Tô-ma Đức Giê-su mời gọi “xem những bàn tay” xỏ ngón tay vào những lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn, theo điều kiện mà ông đã đặt ra cho 10 môn đệ kia, chứ không phải cho Đức Giê-su (Ga 20,25). Luca cũng ghi lại lời mời gọi (hãy xem) và “cho xem” tương tự như như Gioan, nhưng Luca thêm “những bàn chân nữa” thay vì “cạnh sườn”: “hãy nhìn xem những bàn tay và những bàn chân của Thầy” (Lc 24,39.40). Sự sai lệch chút ít trong dữ liệu của hai tác giả này như bổ sung cho nhau. Đức Giê-su Phục Sinh mang nơi thân mình cả những dấu đinh nơi những bàn tay và những bàn chân, cũng như dấu đâm nơi cạnh sườn nữa. Đó là những bằng chứng sống động cho thấy sự nối kết giữa thân xác khổ nạn và thân xác phục sinh. Đó rõ ràng là một thân xác nhưng đã được biến đổi vượt không gian và thời gian. Người có thể hiện diện mọi nơi, mọi lúc.
  6. Sai đi: “Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em”. Lời nói này của Đức Giê-su, liên quan đến “sự sai đi”, như âm vang lời căn dặn của Đức Giê-su trong đoạn cuối của Tin Mừng Mác-cô và Tin Mừng Mat-thêu. Mat-thêu kể rằng: “vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Theo Mác-cô, Đức Giê-su dặn rằng: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loại thọ tạo. Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ; ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,15-16). Như thế các tác giả sách Tin Mừng đều có ý khép lại những trang Tin Mừng của mình bằng mệnh lệnh sai đi của Đức Giê-su. Tuy vậy, có thể thấy rằng không có tác giả Tin Mừng nào cho thấy sự nối kết mật thiết giữa Chúa Cha và Chúa Giê-su. Trong Tin Mừng thứ tư Đức Giê-su đã nhiều lần mạc khải về tương quan giữa Người với Cha. Người không làm điều gì bởi chính mình nhưng làm những điều Người thấy Chúa Cha làm (Ga 5,19); Đức Giê-su nói điều Chúa cha bảo nói (Ga 12,50); Như thể Chúa Cha cho kẻ chết sống lại thì Người con cũng ban sự sống cho ai mà Người muốn (Ga 5,21); Cha ở trong Đức Giê-su và Đức Giê-su ở trong cha (Ga 10,38); “ta và Chúa Cha là một” (10,31). Việc Đức Giê-su sai các môn đệ phát xuất từ ý tưởng sai đi của Chúa Cha và cùng một cách thức. Trong Tin Mừng thứ tư, vô số lần Đức Giê-su đề cập đến việc Người được sai đến (Ga 4,34; 5,23.24.30.36.37; 6,38.44.57; 7,16.18.28.29:8,16.18.26.29; 9,4.36…). chính vì thế trong bối cảnh này mệnh lệnh sai đi cũng được đặt trong tương quan với lệnh sai đi từ Chúa Cha và lan rộng ra đến các môn đệ.
  7. Thở hơi: hành động này của Đức Giê-su gợi nhớ đến hành động của Thiên Chúa trong trình thuật về “Sáng tạo” trong sách Sáng Thế. Thiên Chúa làm ra con người từ bụi đất và thổi vào lỗ mũi của nó hơi thở sự sống và con người trở thành sinh vật sống (St 2,7). Trong ý hướng đó, Hồng ân Thánh Thần có thể làm cho các môn đệ được sống động bởi vì họ đang bất động, khóa kín mình trong nhà. R. Brown ghi nhận ý kiến của một vài nhà chú giải, những người đã giải thích đoạn văn này của Gioan theo ánh sáng của niềm tin Cận Đông rằng hơi thở của một người thánh sẽ có năng lực siêu nhiên, như là khả năng cứu chữa. Vì trong Tin Mừng Gioan, sự thở hơi này liên hệ đến việc tha thức tội lỗi, năng lực bí tích trong nhiều nền Ki-tô giáo, một vài chuyên gia nghĩ rằng ở đây Gioan phản ánh một nghi thức của Ki-tô hữu sơ khai.[1]
  8. “Hãy nhận lấy Thánh Thần”: Việc trao ban Thánh Thần, được cả Luca và Gioan nói đến cách rõ ràng. Thế nhưng, theo Luca thì mãi đến Lễ Ngũ Tuần, tức là 50 ngày sau Lễ Vượt Qua, các môn đệ mới nhận được Thánh Thần một cách long trọng, qua đó họ chính thức ra đi rao giảng Tin Mừng cho “muôn dân” (Cv 2,1-13). Trước đó vào cuối Tin Mừng Luca, Đức Giê-su đã căn dặn các môn đệ hãy ở lại trong thành cho đến khi “nhận được quyền lực từ trời cao ban xuống” (Lc 24,49). Lời căn dặn này cũng được nhắc lại một lần nữa vào đầu sách Công Vụ Tông Đồ (Cv 1,4). Sau đó, Đức Giê-su lại hứa thêm: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần” (Cv 1,8). Tác phẩm của Luca gồm có hai phần: Tin Mừng theo Luca và sách Công Vụ Tông Đồ. Lời hứa ban Thánh Thần vào cuối Tin Mừng cùng với sứ vụ sai đi sẽ được hiện thực hóa và hoàn trọn trong những tường thuật của sách Công Vụ Tông Đồ. Cũng cần biết thêm, trong ba Tin Mừng Nhất Lãm, phải nói Luca là tác giả nói nhiều nhất về Chúa Thánh Thần (Thần Khí). Trong khi từ Thần Khí (πνεύματος ἁγίου) xuất hiện 16 lần trong Tin Mừng Luca, trong Tin Mừng Mác-cô 6 lần và Mát-thêu 11 lần.[2] Gioan cũng là tác giả nói rất nhiều về Thần Khí. Ngoài danh xưng “Thần Khí” giống như Tin Mừng Nhất Lãm, ông còn dùng thêm danh xưng “Pa-rác-lê”[3] (Đấng bảo trợ, giúp đỡ) để diễn tả cùng một ngôi vị (Ngôi Ba Thiên Chúa).[4] Trong Tin Mừng thứ tư Đức Giê-su hứa sẽ “xin cùng Cha và Người sẽ ban một Đấng Bảo Trợ Khác” cho các môn đệ, Đấng này sẽ ở cùng họ “đến muôn đời” (Ga 14,16). Đấng Bảo Trợ này sẽ “dạy các môn đệ mọi điều và sẽ làm cho họ nhớ lại tất cả những điều Đức Giê-su đã nói với họ” (Ga 14,26). Đấng này cũng chính là Thần Khí sự thật, sẽ làm chứng về Đức Giê-su. “Thần Khí sự thật này cũng sẽ dẫn các vào tất cả sự thật” (Ga 16,13). Đấng này đã được Đức Giê-su ban cho các môn đệ trong đoạn văn này (Ga 20,19-31), với quyền năng tha tội.
  9. Tha tội – cầm giữ: Lời ban năng quyền tha tội được ban cho tất cả các môn đệ ngay sau khi Đức Giê-su ban Thánh Thần. Trong Tin Mừng Mát-thêu, ngay sau khi Phê-rô tuyên xưng “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” Đức Giê-su liền trao quyền “tháo cởi – cầm giữ” cho riêng ông: “dưới đất anh trói buộc dưới đất trên trời sẽ được trới buộc, điều gì anh tháo cởi dưới đất, trên trời sẽ tháo cởi” (Mt 16,19). Có lẽ, Mát-thêu nhấn mạnh hơn đến quyền cai quản nói chung của vị tông đồ trưởng và trong đó có cả quyền tha tội. Tin Mừng Gioan nói rõ ràng đó là quyền tha thứ tội lỗi và quyền ấy được trao cho tất cả các tông đồ. Sự khác biệt cũng thể hiện rõ nét ở chỗ là quyền tha tội đi liền với hồng ân lãnh nhận Thánh Thần. Việc trao ban “năng quyền tha tội” kết thúc trình thuật về sự tiến trình “sai đi” của Đức Giê-su. Tiến trình ấy bắt đầu bằng việc ban bình an, giải thích khuôn mẫu của việc sai đi (như Cha đã sai), trao thở hơi trao ban Thánh Thần và ban ban “năng quyền tha tội” (Ga 20,21-23).
  10. “Tám ngày sau”: Cụm từ chỉ thời gian này nối kết chặt chẽ với cụm từ “ngày thứ nhất trong tuần” được nhắc đến trong cả hai trình thuật trước: trình thuật về “ngôi mộ trống” (Ga 20,1-10) và trình thuật về Đức Giê-su hiện ra với 10 môn đệ (Ga 20,19-23). “Tám ngày sau” có thể là một tuần sau và hôm ấy lại là “ngày thứ nhất trong tuần” kế tiếp, các môn đệ lại tụ họp cùng với Tô-ma và Đức Giê-su lại hiện ra. R. Brown cho rằng kiểu nói này rất có thể ảnh hưởng bởi truyền thống cử hành Thánh Thể vào ngày thứ nhất trong tuần được nói đến nơi sách Công Vụ Tông Đồ và thư gửi tín hữu Cô-rin-tô (Cv 20,7; 1Cr 16,2). Brown còn nhấn mạnh thêm rằng việc ngày Chúa Nhật có một ý nghĩa trong cộng đoàn Gioan có thể được thấy từ việc định ngày của thị kiến của “người xem thấy” trong sách Khải Huyền (Kh 1,10), là “ngày của Chúa”, giả định là Chúa Nhật.[5]
  11. Tô-ma: Trong Tin Mừng thứ tư, Tô-ma là một tông đồ khá đặc biệt. Nếu như trong ba Tin Mừng Nhất Lãm, Tô-ma chỉ được nhắc đến duy nhất 1 lần khi các tác giả liệt kê danh sách cách 12 tông đồ (Mt 10,3; Mc 3,18; Lc 6,15), Tin Mừng thứ tư gọi tên Tô-ma đến 7 lần (Ga 11,16; 14,5; 20,24.26.27.28; 21,2). Riêng trong đoạn này tên gọi Tô-ma được nhắc đến 4 lần. Có thể nói rằng đây là câu chuyện làm nên tên tuổi của Tô-ma đến nỗi các độc giả dường như quên đi những lần xuất hiện trước đó của Tô-ma. Trước đó, trong bối cảnh Đức Giê-su muốn trở lại Giu-đê vì hay tin La-za-rô lâm bệnh. Các môn đệ khác đã can ngăn Đức Giê-su vì trước đó Người Do Thái đã tìm cách ném đá Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem (Ga 10,31.33; 11,8). Riêng Tô-ma khuyến khích các môn đệ rằng: “Cả chúng ta nữa, chúng ta hãy cùng đi để cùng chết với thầy” (Ga 11,16). Trong bối cảnh này rõ ràng Tô-ma đóng một vai trò rất quan trọng. Ông dường như thay thế vai trò của Phê-rô bởi vì bình thường Phê-rô hay lên tiếng thay cho các tông đồ khác. Hơn nữa, đây là vấn đề sống – chết chứ chẳng phải chuyện chơi. Tô-ma cho thấy ông can đảm và dấn thân đến mức nào trong sứ vụ theo Chúa. Trong một dịp khác, trong diễn từ từ biệt, khi Đức Giê-su bộc bạch cũng các môn đệ rằng: “thầy đi là để dọn chỗ cho anh em, để thầy ở đâu thì anh em cũng sẽ ở đó với thầy, thầy đi đâu anh em biết đường rồi”, Tô-ma lại thưa: “Thưa Thầy chúng con không biết thầy đi đâu làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14,5). Nhờ câu hỏi này Đức Giê-su đã mạc khải chính Người “là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua” Người (Ga 14,6). Ông đã muốn lên Giu-đê để cùng chết với thầy, giờ lại muốn tìm con đường để theo thầy. Tô-ma quả là một con người rất đáng để ý trong Tin Mừng thứ tư.
  12. “Không tin” – “Tin”: Tô-ma đã đi một hành trình tám ngày “không tin” sâu thẳm cho đến “tin” tuyệt đỉnh ngay khi gặp Đức Giê-su. Trong bài luận ngắn mang tựa đề “giải oan cho Tô-ma”[6], nổi oan bị mang tiếng là kém tin, tôi đã phân tích và chứng minh rằng đó là tâm trạng chung củ tất cả các môn đệ kể cả Phê-rô, và Ma-đa-lê-nê. Tất cả đều phải thấy Đức Giê-su rồi mới tin. Như thế, “Thấy và tin” là một tiến trình bình thường của tất cả các môn đệ lúc bấy giờ. Bà Maria Ma-đa-lê-nê còn tưởng Đức Giê-su là “người làm vườn” (Ga 20,15). Hai môn đệ trên đường về Emmaus cũng nói chuyện với Đức Giê-su dọc đường cả buổi nhưng cũng không nhận ra Chúa mãi đến khi Chúa “bẻ bánh” thì họ mới nhận ra Chúa (Lc 24,13-35). Chỉ có một môn đệ không thấy Đức Giê-su Phục Sinh và đã tin. Đó là “người môn đệ Đức Giê-su thương mến”. Khi bước vào trong “ngôi mộ trống”: “ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8). Cái ông thấy trong “ngôi mộ trống” dĩ nhiên không phải Đức Giê-su. Cái thấy của ông lúc ấy chỉ là “ngôi mộ trống và băng vải liệm” nhưng cái tin của ông là vô hạn. Nội dung tin của ông có thể là Đức Giê-su Phục Sinh; có thể là toàn thể lời Thánh Kinh nói về Người.
  13. “Đức Chúa của tôi, Thiên Chúa của tôi”. Tô-ma không cần xỏ ngón tay vào lỗ đinh, cũng không cần đặt bàn tay vào cạnh sườn như ông đã đòi hỏi trước đó. Ông chỉ cần thấy Chúa là ông đã tin. Có thể nói là niềm tin của ông vượt trên niềm tin của tất cả các người còn lại ở chỗ ông đã vươn đến hiểu biết thần tính cao nhất của Đức Giê-su: Thiên Chúa. Lời tuyên xưng của Tô-ma quả thực là lời kết quá hoàn hảo cho Tin Mừng thứ tư. Tin Mừng này khời đầu bằng lời tựa giới thiệu rằng: “Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Kết thúc Tin Mừng, Tô-ma tuyê xưng Đức Giê-su là Thiên Chúa. Lời tuyên xưng của ông không chỉ đơn giản thừa nhận thực tại của sự Phục Sinh của Đức Giê-su nhưng diễn tả ý nghĩa cao nhất, long trọng nhất, như mạc khải về Đức Giê-su là ai.[7]
  14. “Không thấy mà tin”: Lời chúc lành này của Đức Giê-su có thể gợi nhớ đến niềm tin của “Người môn đệ Chúa yêu”, người “đã thấy và đã tin” trước đó, nhưng trên hết đó là một lời mời gọi và chúc phúc dành cho đa số thành viên của cộng đoàn Gioan thế kỷ thứ nhất và cho tất cả các tin hữu qua mọi thời đại, bởi hầu hết họ đều không thấy Đức Giê-su một cách trực tiếp và họ đã tin vào Chúa qua lời chứng của các môn đệ.

Bình Luận

Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh (Ga 20,19-31) bao gồm hai lần hiện ra của Đức Giê-su Phục Sinh cho các môn đệ và đoạn kết của toàn bộ Tin Mừng thứ tư. Đoạn Kết nói đến mục đích của những dấu lạ được ghi lại trong sách Tin Mừng này là: “để anh chị em tin Đức Giê-su là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa”. Niềm tin này đem lại cho những người tin “sự sống đời đời nhờ danh Người”. Nội dung niềm tin không chỉ là là Đức Giê-su là Đấng Ki-tô mà người Do Thái từng mong đợi nhưng Người còn là Con Thiên Chúa. Tuy nhiên, Người không chỉ là Con Thiên Chúa mà còn là Thiên Chúa theo như mạc khải của Tin Mừng Gioan ở Lời Tựa (Ga 1,1) và lời tuyên xưng của Tô-ma vào cuối Tin Mừng (Ga 20,28). Hành trình “thấy và tin” của Tô-ma và các môn đệ đã kết thúc với đỉnh điểm là lời tuyên xưng của Tô-ma và đã đến hành trình của các tin hữu sơ khai. Họ là những người được “phúc” không thấy Đức Giê-su Phục Sinh mà vẫn tin. Đó là niềm tin dựa trên lời chứng của các tông đồ qua việc nghiền ngẫm Thánh Kinh, dưới tác động linh hứng và khai sáng của Chúa Thánh Thần. Đó là nhờ sự tác động của Đức Giê-su qua việc tham dự Thánh Lễ (Bí tích Thánh Thể). Họ được mời gọi cảm nhận và tin Đức Giê-su Phục Sinh đang hiện diện cách vô hình trong từng biến cố của cuộc đời họ dù cho họ không thấy Người bằng xương bằng thịt.

[1] R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI): Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 29A, 1023.

[2] Mt 1,18.20; 3,11.16; 4,1; 12, 18.28.31.32; 22,43; 28,19; Mc 1,8.10.12; 3,29; 12,36; 13,11; Lc 1,15.35.41.67; 2,25.26.27; 3,16.22; 4,1.14.18; 10,21; 11,13; 12,10.12

[3] Xem thêm Lê Minh Thông, “Đấng Pa-rác-lê là ai?” tại Tin Mừng Gio-an (Ga), Évangile de Jean (Jn), Gospel of John (Jn): Đấng Pa-rác-lê là ai? (TM Gio-an) (leminhthongtinmunggioan.blogspot.com) (truy cập 09/04/2021).

[4] Ga 14,16.26; 15,26; 16,7.

[5] R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI): Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 29A, 1019.

[6] HORIZON MISSIONARY: GIẢI OAN CHO THÁNH TÔ-MA! (josephpham-horizon.blogspot.com) (truy cập 09/04/2021)

[7] G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 385.