Thứ Năm, ngày 05/10/2017 Lượt xem: 113

Lời Chúa + Bài giảng Lễ Đức Mẹ Mân Côi

Bài Ðọc I: St 3, 9-15. 20

“Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa miêu duệ mi và miêu duệ người phụ nữ”.

Trích sách Sáng Thế.

Thiên Chúa đã gọi Ađam và phán bảo ông rằng: “Ngươi đang ở đâu?” Ông đã thưa: “Con đã nghe thấy tiếng Ngài trong vườn địa đàng, nhưng con sợ hãi, vì con trần truồng và con đang ẩn núp”.

Chúa phán bảo ông rằng: “Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng ngươi trần truồng, há chẳng phải tại ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi không được ăn ư?” Ađam thưa lại:”Người phụ nữ Chúa đã cho làm bạn với con, chính nàng đã cho con trái cây và con đã ăn”. Và Thiên Chúa phán bảo người phụ nữ rằng: “Tại sao ngươi đã làm điều đó?” Người phụ nữ thưa:”Con rắn đã lừa dối con và con đã ăn”.

Thiên Chúa phán bảo con rắn rằng: “Bởi vì mi đã làm điều đó, mi sẽ vô phúc ở giữa mọi sinh vật và mọi muông thú địa cầu; mi sẽ bò đi bằng bụng, và mi sẽ ăn bùn đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó, người miêu duệ đó sẽ đạp nát đầu mi, còn mi thì sẽ rình cắn gót chân người”.

Và Ađam đã gọi tên vợ mình là Evà: vì lẽ bà là mẹ của chúng sinh.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: 1 Sm 2, 1. 4-5. 6-7. 8

Ðáp: Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, Ðấng Cứu độ tôi (c. 1a).

Xướng: 1) Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, và sức mạnh tôi được gia tăng trong Thiên Chúa tôi; miệng tôi mở rộng ra trước quân thù, vì tôi reo mừng việc Chúa cứu độ tôi. – Ðáp.

2) Chiếc cung những người chiến sĩ đã bị bẻ gãy, và người yếu đuối được mạnh khoẻ thêm. Những kẻ no nê phải làm thuê độ nhật, và những người đói khát khỏi phải làm thuê; người son sẻ thì sinh năm đẻ bảy, còn kẻ đông con nay phải héo tàn. – Ðáp.

3) Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống, Chúa đày xuống Âm phủ và Chúa dẫn ra. Chúa làm cho nghèo và làm cho giàu có, Chúa hạ xuống thấp và Chúa nâng lên cao. – Ðáp.

4) Từ nơi cát bụi, Chúa nâng người yếu đuối; từ chỗ phân nhơ, Chúa nhắc kẻ khó nghèo, để cho họ ngồi chung với các vương giả, và cho họ dự phần ngôi báu vinh quang. – Ðáp.

Bài Ðọc II: Rm 5, 12. 17-19

“Nơi nào tội lỗi đầy tràn, thì Người ban ơn thánh dư dật”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, cũng như do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi mà có sự chết, và thế là sự chết đã truyền đến mọi người, vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội. Vì nếu bởi tội của một người mà sự chết đã thống trị do một người đó, thì những người lãnh được ân sủng và ơn huệ dồi dào bởi đức công chính, càng được thống trị hơn nữa trong sự sống do một người là Ðức Giêsu Kitô. Do đó, tội của một người truyền đến mọi người đưa tới án phạt như thế nào, thì đức công chính của một người truyền sang mọi người đưa tới bậc công chính ban sự sống cũng như thế. Vì như bởi tội không vâng lời của một người mà muôn người trở thành những tội nhân thế nào, thì do đức vâng lời của một người mà muôn người trở thành kẻ công chính cũng như thế.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Lc 1, 28

Alleluia, alleluia! – Kính chào Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ; Trinh Nữ được chúc phúc giữa các người phụ nữ. – Alleluia.

Phúc Âm: Lc 1, 26-38

“Này Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một Con trai”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Thiên Thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nadarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Ðavít, trinh nữ ấy tên là Maria. Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: “Kính chào Trinh Nữ đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ”. Nghe lời đó, Trinh Nữ bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì. Thiên thần liền thưa: “Maria đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa với Chúa. Này Trinh Nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận.

Nhưng Maria thưa với thiên thần: “Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?”

Thiên thần thưa: “Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ. Vì thế, Ðấng trinh nữ sinh ra sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ trinh nữ cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được”.

Maria liền thưa: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền”. Và thiên thần cáo biệt trinh nữ.

Ðó là lời Chúa.

Bài giảng chủ đề:

MẦU NHIỆM NHẬP THỂ

Tu sĩ Gioan Baotixita Trần Vui, SVD

Lễ Đức Mẹ Mân Côi được thiết lập vào năm 1573 để tạ ơn chiến thắng quân Hồi Giáo ở vịnh Lêpantê; lúc đầu lễ này được mừng trong dòng Đaminh và tại những nhà thờ có thiết lập Hội Mân Côi. Mãi đến năm 1761, để ghi nhớ một cuộc chiến thắng khác (lực lượng Công Giáo đã đẩy lui quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Peterwarođiô, gần Vienne), đức Clêmentê XI cho mừng lễ này vào Chủ Nhật đầu tháng 10 trong toàn Hội Thánh. Năm 1913 ngày lễ được ấn định vào ngày 17 tháng 10.[1] Phụng vụ Lễ Đức Mẹ Mân Côi cho chúng ta sống lại biến cố Truyền Tin và nhắc nhở chúng ta về Mầu Nhiệm Nhập Thể, qua đó, Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta biết nguồn gốc xuất thân của Chúa Giêsu để từ đó chúng ta vui mừng chiêm ngưỡng Thiên Chúa qua Con Một của Ngài; và chúng ta cũng học được nơi Đức Giêsu sự vâng phục trong khiêm nhường. Mẹ Maria cũng là một mẫu gương về sự vâng phục và khiêm nhường để cho chúng ta noi theo trong sự vâng phục thánh ý Chúa Cha.

Trước hết, chúng ta tưởng nhớ Mầu Nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu. Đó là việc Con Thiên Chúa làm người và ở giữa loài người chúng ta. Văn hóa Việt Nam cho thấy khi tiếp xúc với một người nào đó người ta thường phải tìm hiểu về nguồn gốc đối tác của mình. Chẳng hạn khi cưới vợ hoặc gả chồng thì phải xem gia thế của bạn đời mình thế nào: “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”; khi xin việc trong một công ty hay một cơ sở nào, người tuyển dụng yêu cầu nhân viên phải có sơ yếu lý lịch. Đối với Chúa Giêsu, Người có hai gia phả về nhân tính và thiên tính. Trong khi tác giả Tin Mừng Mátthêu và Luca nói đến gia phải nhân tính của Đức Giêsu là con ông Giuse thuộc dòng dõi Đavít như các ngôn sứ đã loan báo, thì tác giả Tin Mừng Gioan lại nói đến gia phả thiên tính của Người. Lời tựa Tin Mừng Gioan khẳng định Ngôi Lời đã có từ trước muôn đời và “Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1). Tuy nhiên, Thiên Chúa đã khước từ địa vị của mình để đến với nhân loại như thánh Phaolô xác quyết trong thư gửi tín hữu Philípphê: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hang với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7). Và tường thuật gia phả trong Tin Mừng Gioan đi đến khẳng định: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Việc nhận biết nguồn gốc Chúa Giêsu sẽ giúp ta có tâm tình tín thác và hy vọng hơn vào Người; đồng thời cũng cho chúng ta một niềm vui lớn lao vì được ở với Người.

Biến cố nhập thể mời gọi vui lên vì Thiên Chúa đã đến với con người, trở nên một con người và ở giữa con người. Đây cũng là lý do mà sứ thần Gabrien đã ngỏ với Đức Maria: “Hãy vui lên” (Lc 1,28). Trong Kinh Thánh, “hãy vui lên” là một lời mời hãy vui mừng vào thời vị cứu tinh đến giải thoát Israel. Ngôn sứ Xôphônia đã cho thấy lý do mà dân Israel “hãy vui mừng” là vì Thiên Chúa đang ngự giữa họ, Ngài là Vị Cứu Tinh: “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xion, hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nức lòng khấn khởi” (Xp 3,14). Ngôn sứ Dacaria cũng lặp lại: “Hỡi thiếu nữ Xion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi” (Dc 9,9). Và ngôn sứ Giôen cũng mời gọi các tạo vật hãy vui lên vì Đức Chúa đã làm những việc lớn lao như mưa rào đem lại sự tốt tươi cho muôn loài (Ge 2,21-23).

Người Công Giáo chúng ta thường dùng câu: “God be with you” (Chúa ở cùng bạn), viết tắt là godbwye, để nói lên ước nguyện tốt đẹp khi tạm biệt ai đó. Đó cũng là nguồn gốc của từ Godbye (chào tàm biệt). Có Chúa ở với mình thì sẽ không còn sợ hãi, vì Ngài là nguồn bình an; sẽ không còn lo lắng hay buồn sầu, vì Ngài là nguồn hạnh phúc và niềm vui; sẽ không còn thất vọng, vì Ngài là nguồn hy vọng; sẽ không phải chết, vì Ngài là nguồn ơn cứu độ.  Khi rước hòm bia về thành của mình, vua Đavít đã hớn hở và nhảy múa. Dù bà Mikhan, con gái vua Saun, khinh bỉ và coi ông như là một đứa vô danh tiểu tốt, vua Đavít vẫn bình thản: “Trước nhan Đức Chúa tôi sẽ vui đùa” (x. 2 Sm 6,12-21). Tin Mừng Luca cho biết khi được Đức Maria đến thăm thì Gioan Tẩy Giả đã nhảy lên trong bụng vì vui sướng, vì được Chúa ở gần (Lc 1,41-44). Như vậy, sự vui mừng gắn với việc Thiên Chúa đến ngự giữa dân của Ngài. Lời chào của sứ thần loan báo một tin vui, đó là thời cứu tinh đã đến, thời mà Thiên Chúa đến viếng thăm dân Ngài.

Mầu Nhiệm Nhập Thể đánh dấu một thời kỳ mới: trời đất giao hòa, Con Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa đã trở đã trở thành xác phàm, trở nên một con người cụ thể để cho con người có thể thấy được, nghe được, đụng chạm được và cảm nghiệm được. Thật vậy, giữa Đấng Tạo Hóa và loài thọ tạo không còn khoảng cách; bức màn ngăn cách giữa Thiên Chúa và loài người đã được xé ra khi Đức Kitô phục sinh. Do đó, tất cả mọi người có lý do để vui mừng; cách riêng Kitô hữu là những người nhận ra có Chúa hiện diện nơi mình, những người biết mình được Thiên Chúa yêu thương, biết mình được Thiên Chúa giải thoát khỏi sự chết qua Đức Kitô. Chúng ta biết chắc được như thế là vì Ngài đã mạc khải cho chúng ta như thánh Gioan khẳng định: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16);thánh Phaolô cũng xác quyết điều này rằng Thiên Chúa yêu chúng ta đến nỗiphó nộp Con của Người cho chúng ta, thì Người không còn tiếc với chúng ta điều gì(x. Rm 8,32). Ý thức được điều này, người Kitô hữu được mời gọi sống chứng nhân cho mầu nhiệm này bằng một cuộc sống vui tươi, quảng đại và vị tha với hết mọi người.

Qua Mầu Nhiệm Nhập Thể, người Kitô hữu cũng được mời gọi sống khiêm nhường và vâng phục theo gương Con Thiên Chúa và Thánh Mẫu Maria.

Đức Giêsu là mẫu mực về đức vâng phục; Người đến thế gian là để thi hành thánh ý Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa, này con đến để thực thi ý Ngài, như trong cuốn sách đã chép về con” (Hr 10,5-7) và “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4,34). Bằng sự vâng phục Chúa Cha, Đức Giêsu đã toàn tất chương trình cứu độ nhân loại. Với sự khiêm nhường và chấp nhận tự hủy mình ra không, Người trở nên một người phàm, được cưu mang và sinh hạ bởi một trinh nữ.Người đã vâng lời đến tận cùng vì yêu thương mà trong thư gửi tín hữu Philípphê thánh Phaolô đã xác quyết: “Người đã hạ mình xuống, vâng lời cho đến chết, mà chết trên cây thập tự” (Pl 2,8). Là Thiên Chúa nhưng Đức Giêsu cũng mang thân phận con người nên chắc rằng Người cũng lo sợ khi đối diện với những khổ hình, với cái chết; tuy nhiên, vì nhân loại Người đã vâng lời cách tuyệt đối như trong vườn Cây Dầu: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” (Lc 22,42). Đó là sự vâng phục trọn hảo, một hy lễ đẹp lòng Chúa Cha.

Mẹ Maria đã sẵn sàng cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu độ qua tiếng “xin vâng”. Mặc dù Mẹ đã không hiểu hết những gì thiên sứ loan báo về Mầu Nhiệm Nhập Thể nhưng với niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa cùng với tâm hồn khiêm nhường, Mẹ đã chấp nhận để cho công trình cứu chuộc nhân loại được hoàn tất. Và một khi nhận lời cộng tác vào chương trình đó, Mẹ Maria cũng chấp nhận những đau khổ cùng với Con của Mẹ, trước hết là sự sinh hạ Chúa Giêsu nơi máng cỏ nghèo hèn, việc đem hài nhi Giêsu trốn sang Ai Cập, rồi đến việc lạc mất con trong đền thánh, nhất là cuộc thương khó và tử nạn. Lời của ông Simêôn cho thấy điều đó: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâu thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Với lòng tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa, Mẹ đã vượt qua được những thử thách và để cho thánh ý Chúa được thực hiện.

Ngày nay Thiên Chúa cũng kêu gọi người tín hữu cộng tác vào chương trình cứu độ qua việc vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Việc vâng phục thánh ý Thiên Chúa bao gồm lắng nghe và tuân giữ lời Chúa. Mặc dù chúng ta chưa hiểu hết được những lời đó cũng như các mầu nhiệm, nhưng với lòng đơn sơ và khiêm nhường chúng ta hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào Chúa như trẻ thơ hoàn toàn phó thác và tin tưởng nơi người mẹ: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28). Việc cộng tác vào công trình cứu độ cũng đòi hỏi người tín hữu hy sinh và chịu vất vả trong cuộc sống. Theo Đức Kitô là bước theo Người trên con đường thập giá; và để đến được với Người chúng ta phải đi qua cửa hẹp, vì nó đưa đến sự sống, còn cửa rộng thì dẫn đến diệt vong. Tuy nhiên, nếu chúng ta quyết tâm lên Giêrusalem với Đức Giêsu, quyết tâm đi qua cửa hẹp với Người thì những hy sinh, những gian khổ đó sẽ được kết hợp với cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Kitô và trở thành hy lễ tốt đẹp dâng lên Chúa Cha và từ đó sinh ơn cứu độ cho chính mình và cho người khác nữa.

[1] Phan Tấn Thành, Magnificat, Học viện Đa Minh-2016, tr.222.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *